PHƯỚC LONG, QUÊ HƯƠNG THỨ HAI CỦA TÔI

Ngày đăng: 17/07/2016 10:06:10 Chiều/ ý kiến phản hồi (21)

 

Lời Tâm Sự: Những gì tôi viết ở đây dựa vào ký ức của một đứa trẻ sinh ra ở vùng đồng bằng, theo cha, mẹ lên tỉnh Phước Long sống. Vì dựa vào ký ức của một đứa trẻ nên chắc chắn sẽ nông cạn (tuổi ăn chưa no, lo chưa tới), sẽ quên trước, quên sau những con người, những sự việc đã xảy ra trong những năm 60 của thế kỷ trước. Sau đó, chiến tranh xảy ra. Biết bao vật đổi, sao dời…     Tôi rất mong được sự góp ý, chỉnh sửa, bổ sung, nói chung là dưới bất kỳ hình thức nào của các bạn, những người biết về tỉnh Phước Long, hay xem Phước Long là quê hương như tôi. Rất mong. Nguyễn Hoàng Long. ([email protected])

 

Ba raPhần I:         CON NGƯỜI

Tôi theo gia đình lên Phước Long sống vào năm 1960. Thuở ấy, nếu nói núi Bà Rá sẽ có nhiều người biết hơn nói đến tỉnh Phước Long (PL). Ba tôi là công chức được phái lên PL làm việc. Ông đến đấy trước, khi đã ổn định cuộc sống, xây được nhà xong mới rước mẹ và chị em chúng tôi lên. Nhà mái tranh, vách tre nhưng khá khang trang và nằm ở nơi giao nhau của hai con đường dân sinh: đường trước nhà dẫn đến phía sau phi trường Phước Bình, bên hông phải nhà là đường xe be chở gỗ dẫn vào chân núi Bà Rá. Cạnh nhà tôi là nhà của một chú, tôi không nhớ tên, cũng là công chức. Sau này, căn nhà bên cạnh được hai cô giáo sang lại và hai cô trở thành hàng xóm của gia đình chúng tôi.

Ấn tượng đầu tiên nơi tôi về PL là màu đỏ của đất và ngọn Bà Rá sừng sửng; chỉ cần bước ra khỏi nhà là thấy. Từ chập tối cho đến sáng sớm, những âm thanh từ bên ngoài vang vọng vào mà tôi nghe được rất lạ tai: tiếng của chim rừng, của thú rừng. Buổi trưa tiếng sáo diều vi vu của người dân tộc Stiêng bản địa, tôi vẫn thường thấy họ đi trước nhà, làm khung cảnh càng thêm hiu quạnh.

1                   ảnh minh họa, nguồn net

Người Stiêng, mà tôi quen gọi là đồng bào Thượng (Mountaineer), sống chủ yếu ở PL và một ít ở 2 tỉnh Bình Long, Tây Ninh. Theo chỗ tôi biết người Stiêng chỉ có một họ duy nhất là họ Điểu, và tên thường có hai chữ như: Điểu Lên, Điểu Lếp…, nhưng phải nói trình độ chơi diều của họ vào bậc thượng thừa và chỉ chơi một loại diều duy nhất là diều sáo. Tôi thường thấy họ đi thành nhóm ngang nhà theo một thứ tự nhất định: Người đàn ông đi đầu bên dưới đóng khố, với cây xà gạc móc trên vai phía trước ngực. (Cây xà gạc hay còn gọi chà gạc) gần giống cây rựa người dân nông thôn vẫn sử dụng, nhưng cán dài hơn [khoảng 60 – 70cm] làm bằng thân tre có cả phần gốc [củ tre] dài khoảng 10cm. Họ chọn cây tre có gốc và thân hợp thành góc 90 độ ( giống như cây gậy của các cụ già) rồi khoét một cái khe ở gốc để nhét lưỡi xà gạt bằng kim loại vào đó, như vậy phần gốc tre của xà gạc còn một đoạn dài 4 – 5cm; đủ để móc lên vai. Xà gạc vừa là công cụ để chặt, đốn cây, vừa là vũ khí tự vệ trước thú dữ.) Lếch thếch đi phía sau là trẻ em, phụ nữ. Phụ nữ Stiêng ngực để trần, bên dưới quấn xà rong, vai mang gùi chứa lâm sản (củi, măng, mật ong, dầu chai…) để trao đổi, tay bồng con nhỏ.

Người Stiêng ở trong nhà sàn và sống quây quần trong sóc (cộng đồng người Stiêng), họ theo mẫu hệ và cưới chồng. Sau khi cưới, người chồng được xem như “tài sản” của nhà đó. Phụ nữ Stiêng có tục căng tai: khi một cô gái đến tuổi cập kê, 2 dái tai của cô sẽ được xỏ lỗ và dùi vào đó theo hướng nong ra cho ngày một to để gắn một đoạn ngắn khoảng 2 – 3cm nanh heo rừng, ngà voi (nếu nhà giàu). Vật được nong ở 2 lỗ tai càng to, người chủ của nó càng được xem là đẹp! Tôi đã từng thấy có những phụ nữ dái tai được nong bằng vật có đường kính phải hơn 4cm.

Thấy cách đi đường của người Stiêng hơi lạ: đàn ông đi tay không (xà gạc đã móc vai), rất là thong dong, nếu có bế thì bế chó, trong khi phụ nữ vai mang gùi, tay bế con. Có người đã hỏi người Stiêng tại sao không mang giúp gùi cho vợ, hay bế con, thì nhận được câu trả lời: “Mấy cái đó của nó. Nó giữ.” Câu trả lời này, theo tôi, thể hiện quan điểm mẫu hệ, nhưng chỉ đúng một phần. Khi đi trong rừng, người đi đầu phải làm nhiệm vụ mở lối, phải liên tục chặt cây, vẹt cỏ, phát hiện rắn, rết, và nhất là sẵn sàng chiến đấu chống thú dữ. Đây là việc sống còn trong rừng. Và cứ đội hình lạ mắt đó, họ đi vào thị trấn.

Người Stiêng thích nuôi chó và thương chó. Tôi đã từng thấy chó con được họ bế, trong khi con nhỏ của họ phải cố mà đi, dù có té lên, té xuống. Xét cho cùng, mũi của chó, dù là của chó con, vẫn thính và có thể đánh hơi, báo động mối hiểm nguy cho chủ từ khá xa và như vậy chúng đáng được bế.

Những sản phẩm người Stiêng hay mua của người Kinh là muối hột và thuốc rê, loại thuốc lá rẻ tiền nhất và được bán dưới dạng từng bánh mà mấy bà cụ ăn trầu dùng để xỉa. (À, cái tên thuốc rê, theo tôi, có lẽ do người hút để vấn điếu thuốc phải ngắt cục thuốc, rồi để cục thuốc trên tờ giấy quyến, dùng ngón tay rê rê, nếu khéo, bằng không thì phải dùng cả 2 bàn tay vấn cho thành điếu thuốc tròn trịa, dễ hút. Có người còn gọi chúng là thuốc “bốc–lăn–xe”. Thật cụ thể và dễ hiểu. Tôi thật bất ngờ khi gần đây được người em họ bên trời Tây về tặng cho… gói thuốc rê! Té ra hiện nay thuốc rê vẫn còn được hút ở nhiều nơi, tuy hình thức gói thuốc có tươm tất, hiện đại hơn nhưng vẫn giữ nét cơ bản: vẫn phải rê! Sau đó, một lần lên sân bay Tân Sơn Nhất tôi lại thấy cảnh mấy “bà đầm” ba lô vừa ra khỏi sảnh lập tức ngồi xuống lề đường móc gói thuốc ra … rê.).

Cơm là thức ăn xa xỉ, người Stiêng chủ yếu ăn ngô (bắp) và sắn (khoai mì). Họ có trồng lúa nương nhưng năng suất thóc thu hoạch rất thấp, và hay bị mất mùa. Cơm được nấu trong ống tre, và phải nói đó là cả một nghệ thuật. Ống tre dùng để nấu dù còn tươi nhưng đốt trên lửa lâu sẽ bị cháy thủng, còn cơm nấu trong ống thì không thể xới, đảo, thế mà cơm trong ống tre họ nấu lại chín đều, ăn ngon; không phải cơm ba tầng! Đoạn ống tre tươi được chọn để nấu cơm phải có đường kính lòng ống khoảng 8cm trở lại, và mắt tre làm đáy ống phải đúng chiều. Dùng ống lộn đầu để nấu cơm (phần mắt gần ngọn cây hơn làm đáy) họ tuyệt đối không đụng đến. Có thể đó là do dị đoan. Gạo khỏi cần vo, cứ thế trút vào ống tre, thêm nước vào, rồi dùng lá cây rừng không độc đóng nút lại. Lúc đầu, ống tre chứa gạo và nước được đặt nghiêng để nướng trên lửa. Phải liên tục xoay để ống tre không bị cháy thủng, khi nước đã cạn (nước đã bay hơi hay rút hết vào gạo) thì đặt ống nằm ngang để nấu cho chín phần trên. Nghệ thuật ở đây là cơm trong ống chín đều mà lửa chỉ làm cháy phần ngoài của ống tre. Vì một lúc sau, khi ống tre nguội bớt, họ sẽ dùng xà gạc vạc bớt phần ống tre cháy, chỉ giữ lại một lớp tre mỏng bọc quanh phần cơm, chỉ việc bẻ lớp tre mỏng này là ăn được cơm. Rất tiện. Gần đây tôi thấy có loại cơm lam hay được bày bán ở một số điểm du lịch. Cơm cũng chứa trong ống tre, với lòng ống nhỏ khoảng 4 – 5cm trở lại, nhưng trên ống tôi tuyệt đối không thấy vết lửa cháy, mà chỉ thấy dấu vết ống tre được ngâm trong nước (để nấu). Nếu đã có nồi, tại sao không nấu cơm trong nồi mà phải bỏ gạo, nước vào trong ống tre rồi mới bỏ ống vào nồi nấu? Tôi thật sự không hiểu nỗi! Để nuốt trôi cơm, người Stiêng ăn canh thụt. Họ bỏ vào ồng tre nhỏ (dĩ nhiên là phải có đáy) rau rừng, muối, nước rồi dùng một que tre chọt nhiều lần vào ồng, giống như trẻ em chơi ống thụt. Có thể động tác này làm nát, mềm rau và tan muối. Ấn tượng nhất là cảnh người Stiêng bắt mối rừng để ăn. Những con mối rừng có bụng to bắng đầu mút đủa và dài cả centimet, màu đen bóng, sau mỗi trận mưa lại mọc cánh bay lên. Họ chỉ việc đứng quanh một gò mối chờ cho con mối bay lên là chộp bỏ miệng ăn. Đây là nguồn chất đạm quý báu vốn có rất ít trong khẩu phần của họ. Nghĩ kỹ, người Kinh chúng ta có hơn gì khi chúng ta vẫn ăn dế cơm, đuông, nhộng?

Người Stiêng chất phác, không biết lo xa, và cũng không biết giá trị của đồng tiền. Họ thường được mướn để làm những công việc nặng nhọc nhưng lại được trả công rất rẻ. Người ta thường hay mướn họ khi khai thác mây, tre trong những cánh rừng ẩm ướt nhiều muỗi và vắt. Có thể nói đây là nghề “bán máu”. Muỗi rừng truyền bệnh sốt rét, còn vắt, với tôi, là nỗi kinh hoàng. Vắt là động vật thân đốt, khi chưa hút máu cơ thể chúng giống như cọng len màu xám, dài khoảng 4cm. Vắt di chuyển theo cách của sâu đo nhưng nhanh hơn nhiều, và ấn tượng nhất là cái đầu vươn cao, xoay vòng vòng để định hướng con mồi (ký chủ), giống như tiềm vọng kính của tàu ngầm, còn lối nói hiện đại là giống như robot. Khi phát hiện ra con mồi, chúng nhanh chóng tiến về phía bạn. Nếu bạn phát hiện ra chúng và bước tránh sang bên, lạc hướng con mồi, chúng lập tức dừng lại, xoay đầu định hướng cực nhanh rồi đổi sang hướng mới để tiếp cận. Thử tưởng tượng khi đứng trên khoảnh đất trống có khoảng chục con vắt đang ở rải rác gần đó: cứ một động tác bước sang phải, hay sang trái, của bạn lập tức sẽ được “tương tác” bởi chục cái đầu xoay xoay, rồi chục con vắt đồng loạt phóng rào rào về phía bạn. Bị trường hợp ấy tôi đã sợ nổi da gà và bỏ chạy. Giống như đỉa, vết hút của vắt máu rỉ ra rất lâu vì trước khi hút máu, chúng đã tiết vào mô cơ thể của bạn chất kháng đông.

Tôi còn nghe kể về việc một người Stiêng bị ngọn tre rơi xuống cắm vào đầu. Tre mọc trong rừng rất khít, cành lá đan vào nhau. Ai đó đi trước đốn tre nhưng do ngọn cây dính chặt với nhau, giật mãi không xuống thế là anh ta dùng xà gạt chặt lấy phần thân tre phía dưới, phần ngọn tre còn lại dính lơ lửng trên cao. Xui cho người Stiêng ấy. Ty Y Tế PL thời đó không làm được gì nhiều cho anh ta ngoài việc cắt ngắn đoạn tre, băng bó, chích cho mấy mũi kháng sinh cùng một mũi morphin rồi cho lên xe chở về SG. Nghe nói khi lên xe anh ta bắt đầu hát.

Chính quyền thời ấy cho lập ở PL, cũng như một số tỉnh khác, nhiều khu dinh điền để di dân từ các tỉnh miền Trung vào. Lúc đầu người dân trong các khu dinh điền chặt đốn cây rừng để vừa có đất canh tác, vừa có thêm gỗ, củi hay hầm củi thành than để bán. Đất rừng phì nhiêu nên một thời gian sau đời sống người dân trong các khu dinh điền trở nên khá giả. Các khu dinh điền như Phước Quả, Phước Tín có thể xem là tiêu biểu. Nhiều bạn học của tôi sống trong những khu dinh điền.

Không hiểu bằng cách nào mà sau năm 1954 ông Diệm đã kéo được khá nhiều thanh niên người Nùng, một sắc tộc ở vùng thượng du Bắc bộ, vào Nam đi lính (ở PL là sư đoàn 5). Khi đi, họ mang theo cả gia đình vào sống và hình thành những cộng đồng nhỏ người Nùng ở rải rác trong các tỉnh PL, Bình Long, Long Khánh. Người Nùng chủ yếu sống bằng nghề trồng trọt và chăng nuôi. Nhờ có thế lực (quân đội), họ chọn những nơi đắc địa: đất đai phì nhiêu, gần sông suối (có nguồn nước), tiện việc đi lại… để lập trang trại, vườn tược, và nhanh chóng giàu lên. Những cái tên như “vườn cam Thiếu tá Coón” là khá phổ biến.

Trong cộng đồng nhỏ dưới dốc phi trường Phước Bình có 2 nhân vật mà mọi người trong cộng đồng đều biết là bà Sáu và bác Bài.

Bà Sáu người miền Nam, vóc to, béo nên còn có biệt danh bà Sáu “Mập”. Bà là chủ hiệu tạp hoá lớn nhất vùng, bán hầu như không thiếu thứ nào, và còn làm thêm nghề môi giới lao động cho người Stiêng. Suốt ngày lúc nào cũng thấy bà lăng xăng, miệng nói oang oang, hết bán hàng cho người Kinh thì mua hàng của người Thượng. Trí nhớ của bà Sáu phải nói là siêu phàm, quán bán hàng ngàn thứ nhưng bà nhớ giá của tất cả. Bạn chỉ cần cầm món đồ đưa lên là bà lập tức nói ra giá của món đồ ấy. Chồng của bà, ông Sáu, nhỏ người, ít nói và cũng ít tham gia vào việc mua bán. Tôi thường thấy ông ngồi phía sau một cái bàn đặt ở chỗ ít ồn ào nhất trong nhà nghe nhạc phát ra từ chiếc máy hát dĩa. Trong quán bà Sáu còn có một anh bạn trạc tuổi tôi. Tôi chưa bao giờ thấy anh ta đi chơi. Mỗi khi tôi đến quán bà Sáu mua mấy thứ lặt vặt cho mẹ, hay lấy báo về xem (ba tôi đặt mua tháng) là nghe tên anh được bà Sáu réo làm việc này, việc nọ hay bán hàng, còn ông Sáu thỉnh thoảng mới gọi anh pha ấm trà, hay mài mấy cây kim cho cái máy hát dĩa. Tôi tò mò rất muốn làm thử một số công việc như xay tiêu từ cái cối bắt trên vách có in hình bà đầm, hay dùng bơm thụt bơm dầu hôi ra chai từ cái thùng thiếc có hình con sò, hay mài kim cho cái máy hát dĩa. Từ đó tôi đâm ra ganh tỵ với anh. Dạo ấy, xe đó Bửu Hiệp chuyến sớm nhất đến PL, và đến giao hàng cho quán bà Sáu vào khoảng 10g (Sài Gòn cách PL khoảng 150km), nhưng phải đến 11g bà mới cho nhận báo. Tôi thường đến sớm để đứng nghe nhạc từ chiếc máy hát dĩa, xem việc mua bán ở quán, và để xem anh bạn bơm dầu, mài kim. Tôi lúc ấy tuy nhỏ nhưng đã bất bình trong cách mua hàng của bà Sáu với người Thượng. Chỉ cần thấy một người Thượng lưng mang gùi chứa món hàng có thể mua được (thí dụ như củi) là bà xăng xái tiến đến. Việc mua bán, ngã giá không biết thế nào nhưng tiếp theo là bà lôi người ấy đến chỗ có ánh nắng, trút gùi củi xuống đất, dúi vào tay mấy tờ giấy bạc rồi đẩy người ấy đi, còn bà thì nhanh chóng đi vào quán. Tội nghiệp cho người Thượng ấy. Người ấy chỉ biết ngơ ngác đứng nhìn theo bóng bà, không nói được lời nào (mà nói thì có ai hiểu?).

Bác Bài người miền Trung, vóc dáng cao lớn, tiếng nói nặng, khó nghe, nhưng đặc biệt là bác có chiếc xe bò, với đôi bò to, khoẻ nhất vùng dùng kéo xe đổi nước. Hai con bò của bác thỉnh thoảng vẫn “ghé thăm” trường tôi. PL là vùng cao (cao độ khoảng hơn 500m, so với mực nước biển), giếng phải đào sâu hàng trăm mét mới có nước. Bác là người mà mọi hộ dân ở đây một tuần phải vài lần gặp mặt, nhất là vào mùa nắng, để đổi nước. Người có tiền thì xây hồ chứa nước mưa dùng quanh năm, đa số người dân dùng những thùng phuy (?) chứa xăng của quân đội đã phế thải để chứa nước. Thùng bằng sắt, đáy hình tròn, dung tích 220L. Vì bằng sắt nên muốn dùng thùng này lòng trong thùng phải được quét dầu hắc chống rỉ sét. Nhà nào cũng có vài ba cái để đựng nước. Thời ấy ở PL có rất ít xe nên chiếc xe bò của bác rất hữu ích. Ai cần dọn nhà, cần chuyên chở vật nặng bác sẵn sàng nhận làm mà không đặt nặng vấn đề thù lao.

Lúc đầu, khi tỉnh mới thành lập, việc đi lại giữa Sài Gòn và PL do hãng xe đò Bửu Hiệp đảm trách. Hãng Bửu Hiệp có bến nằm trên đường Lê Lai, bên hông ga xe lửa SG. Xe đi PL theo lộ trình: Sài Gòn – cầu Bình Lợi – chợ Thủ Đức – chợ Lái Thiêu (Bình Dương) – Bến Cát – ngả 3 Chơn Thành – Đồng Xoài – Phú Riềng rồi mới đến PL. Hãng đảm trách cả việc chở thư cho bưu điện tỉnh. Lúc đầu rất đông công chức đến PL nhận nhiệm sở và đến bằng xe đò nên ít được chú ý, không được trân trọng đón tiếp. Sau này, do có chiến tranh nên công chức mới thường đến PL nhận nhiệm sở bằng phi cơ. Hàng Không Việt Nam bố trí loại máy bay Cessna chở được 6 hành khác bay tuyến này, và mỗi tuần có 1 hoặc 2 chuyến tuỳ theo lượng khách đặt chỗ. Khi này, tỉnh đã hoạt động ổn định nên ít bổ sung nhân sự, vì thế người được phái đến phải là công chức chánh ngạch, quan trọng. Thế là toà Hành chánh phái 1 chiếc xe Dodge (chở được khoảng 15 người) ra phi trường Phước Bình đón khách. Do đã nắm trước được danh sách hành khách, nên ty, sở nào có người mới sẽ cử người đi theo xe đón người của ty, sở mình. Tôi ham vui nên thỉnh thoảng xin tháp tùng đoàn người đi đón người mới. Tỉnh lỵ PL dạo ấy rất ít người, chủ yếu là công chức, gia đình công chức, binh sĩ và gia đình binh sĩ, cùng một số thường dân làm nghề kinh doanh và cung cấp dịch vụ cần thiết cho cộng đồng như thợ hớt tóc, thợ may… nên hầu như mọi người đã quen mặt nhau. Đã thành thông lệ, khi phi cơ đến, người đi đón viên chức mới sẽ đứng trong nhà chờ chờ, còn hành khách là cư dân cố cựu được người nhà bước ra đón. Phi cơ đáp, cửa mở, hành khách bước xuống, phi công mở cửa khoang hành lý trả cho khách. Nếu nhân viên mới nhận hành lý rồi đi thẳng về hướng nhà chờ, người đi đón vui mừng chạy đến chào người mới: PL có thêm 1 công dân. Nếu người ấy bước xuống phi cơ nhưng không vội nhận hành lý mà đứng nhìn quanh quất ở cảnh rừng, núi hoang vu, không một bóng xe trên con đường đá đỏ bụi mù trời chạy ngang phi trường (trừ chiếc dodge quân sự đậu cạnh nhà chờ), lâu lắm mới thấy một vài bóng người… dân tộc, còn nhà chờ thì không có được một tấm vách, trong nhà chờ có mấy người ngồi, đứng lổm nhổm, không có vẻ gì là PHƯỚC LONG CHÀO ĐÓN QUÝ KHÁCH như tấm bảng trên mái nhà chờ ghi. Có trường hợp người mới đến rút khăn tay lên che mặt… khóc rồi quày quả trở lại phi cơ. Khi đó người đi đón sẽ thất vọng leo lên xe quay về.

Cạnh đó, còn có rất nhiều người đã đến, đã trụ lại được ở PL và góp phần tạo sự tiến bộ cho tỉnh như: thầy Trần Hữu Thái, trưởng Ty Tiểu học, cùng các cô Ánh Dương, Liên, Định, Xuân Lan, Bạch Tuyết…, thầy Vũ Đình Tiến, hiệu trưởng trường Trung học Nhất Linh, cùng các thầy, cô Lê Thị Thanh, Hoàng Bảo Đài, Nguyễn Nhật Minh…, thầy Robin (một trong hai đoàn viên Peace Corps ở PL, người kia làm ở trại chăn nuôi của Ty Nông nghiệp) dạy tiếng Anh ở trường Nhất Linh, cùng rất nhiều nhân viên những ty, sở khác, và đám trẻ chúng tôi, dù thỉnh thoảng chúng tôi có gây rối: Phương Mai tiểu thư, Quang Trung bạo gan, lắm trò, Ba Tàu anh bạn vắn số (Ba Tàu là biệt danh do gia đình bạn ấy đặt, tên chính thức của bạn tôi không nhớ. Sẽ đề cập đến bạn này trong phần sau), Chín, Ngọc… Những người mà tôi vừa kể trên cùng những người dân như bà Sáu “Mập”, bác Bài, những người sống trong các khu dinh điền, những cư dân bản địa đã cùng sống, làm việc, hay vui chơi… và đã tạo sự thay đổi theo hướng phát triển cho Phước Long.

(còn nữa)

Nguyễn Hoàng Long

0

Có 21 bình luận về PHƯỚC LONG, QUÊ HƯƠNG THỨ HAI CỦA TÔI

  1. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Hoàng Long có trí nhớ tuyệt quá.

    Kể chuyện  thực rất lôi cuốn bạn đọc.

    Tôi thường đến Chơn Thành ăn giỗ nhà ông bà sui gia.

     

    +1
    • Ở ngõ 3 Chơn Thành hồi ấy có bán một đặc sản mà không nơi nào khác có là trái gùi. Trái gùi màu vàng óng, rất đẹp và to hơn trái dâu ta, và được kết thành xâu bán. Ruột trái màu đỏ, vị ngọt thanh, hột khá to nhưng ăn rất ngon. Long rất thích, nhả hột không đành nên nuốt luôn hột. Lần nào đi ngang Chơn Thành cũng đòi mẹ mua cho ăn. Có lần do tham ăn, bao nhiêu trái cũng giành hết nên 2 bà chị tức, liên kết lại doạ: nuốt nhiều hột quá sẽ bị mọc cây trong bụng chết. Long tưởng thiệt, sợ quá, khóc um.

      Có một bản vọng cổ về trái gùi. Đại khái người mẹ đi buôn bán theo xe, cậu con trai nhỏ nhắn mẹ về ngang Chơn Thành nhớ mua xâu trái gùi. Hình như sau đó người mẹ bị tai nạn giao thông mất.

      Lần nào lên thăm sui gia, đi ngang Chơn Thành chị hỏi mua thử xem loại trái rừng ấy có còn không.

      0
  2. Đón chào tập hồi ký tuổi thơ tại Phước Long của Nguyễn Hoàng Long, chắc chắn sẽ được biết thêm nhiều điều thú vị của cậu học trò nhỏ, thông minh nhưng rắn mắt trong khung cảnh thiên nhiên ngập tràn của vùng đồi núi xa xưa. Mặc dù là người Việt và cũng có nghe đến tên Phước Long nhưng chưa bao giờ được đến thăm. Đây là dịp tốt để mở rộng thêm

    kiến thức về đất nước.

    0
  3. Hoành Châu nói:

    Bài viết hấp dẫn , tâm tính  và đời sống   con người ở Phước Long được tác giả khắc họa  rõ nét ,.Phước Long là vùng đất ít  người  biết đến  có lẽ vì đường sá chưa thông suốt và điều kiện sống của   người dân  lúc bấy  giờ   còn khó khăn .Mong đọc phần bài tiếp theo của tác giả  nhé  .            Hoành Châu  (Gia đình  C  )

    0
  4. NHA nói:

    Năm 1965 lớp Lý Hóa của chúng tôi chọn nhiệm sỡ; đến phiên tôi còn tỉnh Phước Long nhưng ngại đường đi trắc trở, tôi “dong” tuốt xuống Hà Tiên, rốt cuộc cũng chẳng khá hơn nhưng đó là “duyên phận”.

    Đọc đến đây bà con chắc nói tôi …” lạc đề”!

    Không đâu…Chuyện là : bạn cùng khóa của tôi, một trong những thầy cô giáo mà Long đã kể tên  đã thay vào nhiệm sỡ ấy.

    Rất vui được HL nhắc đến bạn này hôm nay.

     

    0
    • Vậy té ra anh Nha là bạn đồng khoá của thầy Hoàng Bảo Đài. Ở trường Nhất Linh do ít lớp, thầy Đài phụ trách cả 2 môn Lý và Hoá. Còn thầy Nguyễn Nhật Minh dạy tiếng Anh. Hình như 2 thầy học cùng khoá nên được bổ lên PL cùng lúc. Trái đất đúng là tròn. Khi còn đi dạy, có lần gác thi TNPT Long được xếp gác thi chung với thầy Minh. Vì làm giám thị chung phòng nên không dám trao đổi nhiều, Long có nhận thầy cũ, và nhớ hình như sau 30/4 thầy Minh dạy trường Trưng Vương hay Minh Khai. Trang TPH-VL hay quá.

      0
  5. Thu Cúc nói:

    Rất cám ơn anh Nguyễn Hoàng Long đã gởi đến Trang nhà một bài viết có nội dung phong phú .Bài viết công phu , nghiên cúu tỉ mỉ về môt vùng đất kiêu hùng ( Binh Long anh dũng , Phước Long kiêu hùng ).Tôi có đi đến Sóc Bom Bo (thuôc Bù Đăng, Bù Đốp ).Không nhớ nó thuộc tỉnh nào ? Xin hỏi anh Hoàng Long cho biết thêm .

    0
    • Sóc Bom Bo nổi tiếng nhờ bản nhạc Tiếng Chày Trên Sóc Bom Bo, một bản nhạc hồi mới giải phóng tôi nghe mãi mà không hiểu hết. Sau này nghe riết thành quen lại thấy hay.

      3 ngọn đồi nằm liền kề nhau thành hình vòng cung, ngọn đồi có phi trường Phước Bình và ngọn đồi có tỉnh lỵ PL nằm sát núi Bà Rá, còn sóc Bom Bo nằm trên ngọn đồi cách xa núi và thấp hơn. Nếu đứng trên lầu cao phía sau toà Hành chánh tỉnh thời đó dùng ống nhòm có thể quan sát sinh hoạt của người Stiêng trong sóc. Cám ơn vì đã chú ý xem.

      0
  6. HOA ĐĂNG nói:

    Ai cũng có kỉ niệm tuổi thơ, nhưng Hoàng Long có bộ nhớ thật siêu, chuyên viết về chuyện thời còn bé, tuổi học trò, tuổi sinh viên. Đọc nhiều bài của Hoàng Long mà mãi mới gặp hôm 10/7 vừa qua. Nhờ Hoàng Long mà chị được ngao du mãi tới Phước Long và biết được nhiều điều. Cảm ơn bạn

    0
    • Chào chị Hoa Đăng,

      Không dè HL đã tổ chức được tour du lịch đi PL cho chị.

      Lúc còn học TPH, HL vẫn muốn đi đến quán cà phê Chez Nous, ở gần trường Sư Phạm VL, thử cho biết không khí ở đấy ra sao, có gì hay. Nhưng vì lúc ấy còn nhỏ, không biết uống cà phê, mà cũng không ai chịu dẫn (thằng con nít) đi. Theo chỗ HL biết quán này là nơi lui tới của rất nhiều giáo sinh Sư Phạm VL, chị có thể viết bài, hay một ai đó trong trang nhà, để giúp HL thoả tính tò mò?

      0
  7. Một Lúa nói:

    Anh Nguyễn  Hoàng Long,

    Cảm ơn anh  Hoàng Long giúp những người như tôi được biết nhiều nơi nghe nhiều thứ qua công phu những bài viết.

    Thật trân trọng!

    Điển

    0
  8. Long rất vui khi biết đã cung cấp được một số thông tin cho anh. Hy vọng những nốt ghẻ ruồi (sai sót trong bài viết) không làm cho anh phát chán.

    Chúng ta, những thành viên trang nhà, ai cũng sống qua 2 thiên niên kỷ, như vậy chắc chắn anh Một Lúa sẽ có nhiều việc để chia sẻ cùng trang nhà. Long chờ xem. Chào anh.

    0
  9. Trương phú nói:

    Cùng Hoàng Long, dường như sóc Bom bo BK ở rất nhiều thì phải. khộng biết Hớn Quản cách Phước Long bao nhiêu cây số, vì khi rất nhỏ tôi có đến Hớn Quản, là khu đồn điền cao su, muốn ra Phước long phải đi xe lam, từ đây lên xe đò về lại Sài Gòn, dọc đường bao nhiêu là mô. Đang chờ xem tiếp.

    0
    • Thưa anh,

      Theo chỗ Long biết sóc Bom Bo thuộc huyện Bù Đăng của tỉnh Phước Long, nay là Bình Phước, còn Hớn Quản ở huyện Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long. Thời ấy, nếu đi xe đò từ PL về Sài Gòn sau khi qua ngã 3 Chơn Thành sẽ đến vùng Bàu Bàng, Bàu Lòng, khu vực thường xuyên bị đắp mô, đào đường.

      0
  10. VothiLai nói:

    Anh Hoàng Long thân mến ! Lần đầu tiên trên trang nhà có một bài viết dài như thế ,tuy dài nhưng đọc rất hấp dẫn gợi óc tò mò người xem.Cam ơn anh Long đã cho người xem biết  về phong cảnh và con người của vùng đất Phước Long  .Còn quán caphe ChezNous

    Anh Hoàng Long thân mến ! lần đầu tiên trang nhà có một bài viết rất dài, tuy dài nhưng xem rất thích gợi óc tò mò muốn xem tiếp. Qua bài viết của anh đã giúp cho chúng em biết về phong cảnh và con người của tỉnh Phước Long. Còn về quán cà phê ChezNous đễ em hỏi anh Hoàng Trung và anh Ẫn vì anh Ẩn quen thân với ông chủ quán và hay ra vào quán , chúng em đang chờ xem phần 2 bài viết của anh .

     

     

     

    0
    • Cám ơn cô Lai về 2 việc: đã chịu khó xem bài viết và gợi ý để anh Hoàng Trung hay anh Ẩn đãi cà phê cho Long. Một lần nữa phải công nhận trái đất hình tròn. Còn muốn biết thêm về Phước Long xin cô chờ xem phần tiếp theo sẽ rõ. Chào.

      0
      • Nguyễn Phú nói:

        Chào bạn Long .

        Tôi xin tự giới thiệu : Tôi là học sinh TH Nhất Linh ngay khi trường xây xong  .Niên khóa 1964-1965 tôi học Đệ Lục.Danh sách thầy , cô bạn kể rất đúng.Rất mừng tìm được đồng môn Trường NL vì rất hiếm.

        Mong thư bạn.

        0
        • Xin lỗi bạn Nguyễn Phú vì mãi hôm nay mới xem và biết có phản hồi của bạn. Chắc Long phải gọi bạn là anh vì Long học đệ thất niên khoá 65 – 66 và đệ lục niên khoá 66 – 67, khoá đàn em. Nếu có thể anh chia sẻ cho Long cùng trang nhà kỷ niệm PL hay lúc học Nhất Linh… Anh cho Long địa chỉ email để có thể liên lạc. Chào anh.

          0
          • Nguyễn Phú nói:

            Email của tôi :[email protected]

            Năm bạn nhập trường là năm tôi đã rời trường theo gia đình về Lộc Ninh và học TH Bình Long.

            Lúc trận chiến hè 1965 lúc ấy tôi còn tại tỉnh lỵ .Bạn ở đâu lúc đó ?

            0

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác