VỀ BỨC THƯ PHÁP LƯƠNG MINH GẶP Ở MỸ

Ngày đăng: 5/08/2026 09:17:49 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)
Khoảng thời gian này ông Lương Minh đang đi chơi ở Mỹ. Vốn là một nhà báo lâu năm, ổng có tài quan sát và thấy ra những điều đặc biệt, những chi tiết độc đáo của phong cảnh, của sự việc, của con người…rồi kể lại cho bạn bè nghe. Ổng lại là một người luôn để tâm nghiên cứu chợ búa, thị trường. Nhiều người hy vọng sau chuyến đi này, sẽ có một cuốn sách mới của Lương Minh viết về chợ Mỹ cho bà con đọc.
Hôm trước điện thoại cho tôi, ổng nói bên này dễ kiếm tiền lắm, không thiếu việc làm chỉ sợ mình làm biếng. Siêng năng như tui, qua Mỹ chắc chắn sẽ giàu. Đơn giản như việc cắt cỏ mướn, đi theo chiếc xe như tập thể dục, ngày 4 tiếng đã có 60 đồng.
Nghe ổng nói bắt ham nhưng hôm sau ổng lại kể, vật giá bên này cao lắm, tô phở bên đường 20 đồng, tuy ngon và thịt nhiều nhưng tính ra trên 500 ngàn Việt Nam! Ly cà phê đá trăm rưỡi hai trăm mà uống dở ẹt! Tôi cười, ông ơi, thời cuộc bây giờ người ta lãnh lương hưu Mỹ về Việt Nam sống như tiên, ông lãnh hưu Việt Nam mà đi Mỹ xài là ngược rồi.
Nhưng mà những ghi chép ngắn gọn và hình ảnh ổng public lên face thiệt đẹp và độc đáo.
Như ngày 30/07/26, ổng đăng những tấm hình chụp ở nhà hàng 28, Washington DC. Không gian thật sang trọng. Tôi đặc biệt thích tấm hình chụp một bức thư pháp treo trên tường nhà hàng.
Mới nhìn sơ qua cứ tưởng đây là một bức thư pháp của một tay nào đó, tuy rành chữ Hán nhưng viết cẩu thả, nhiều chữ thảo như dối. Hàng lối, kích cỡ lớn nhỏ của chữ lại không đồng đều.
Nhưng nhìn một hồi lâu rồi thu tâm lại, tôi thấy, như Kim Dung từng kể trong Hiệp Khách Hành, bức thư pháp rõ ràng ẩn tàng kiếm khí. Từng nét, từng nét như những nhát kiếm nhanh, gọn, dũng mãnh chém vào đá núi.
Kinh hồn bạt vía, tôi ngồi thừ người ra rồi lấy tấm hình đi hỏi AI. Vì thiệt ra tôi cũng không đọc nổi bức thư pháp này.
Trời đất ơi! AI cho tôi biết: bức thư pháp này vốn là một bài thơ của Đỗ Phủ, do danh họa kiêm thư pháp gia nổi tiếng Trung Quốc Phùng Kiến Ngô (馮建吳 1910–1989) viết vào tháng 5 năm 1982 tại Viện Họa Quốc Gia Trọng Khánh, thể hiện bằng lối chữ hành thảo vô cùng khoái hoạt.
☘️. Toàn văn bài thơ như sau:
聞道乘驄發,
沙邊待至今。
不知雲雨散,
虛費短長吟。
山帶烏蠻闊,
江連白帝深。
一柱觀留眼,
莽(共)登臨。
Với phần lạc khoản:
杜甫渝州候嚴大侍御不到先下峽詩一九八二年五月書於重慶國畫院馮建吳(Ấn chương: 馮, 建吳)
☘️. Phiên âm Hán Việt
• Bài thơ:
Văn đạo thừa sấu phát,
Sa biên đãi chí kim.
Bất tri vân vũ tán,
Hư phí đoản trường ngâm.
Sơn đới Ô Man khoát,
Giang liên Bạch Đế thâm.
Nhất Trụ Quán lưu nhãn,
Mãng (Cộng) đăng lâm.
• lạc khoản:
Đỗ Phủ Du Châu hầu Nghiêm Đại thị ngự bất đáo tiên hạ hạp thi. Nhất cửu bát nhị niên ngũ nguyệt thư ư Trọng Khánh Quốc Họa Viện Phùng Kiến Ngô.
☘️.Dịch nghĩa:
• Bài thơ:
Nghe nói anh cưỡi ngựa sấu lên đường xuất phát,
Tôi đã đứng bên bờ cát chờ đợi cho đến tận bây giờ.
Nào ngờ đâu mây mưa đã tan rã (mỗi người một ngả),
Làm uổng phí bao câu ngâm vần dài vần ngắn của tôi.
Dãy núi mang theo vùng đất Ô Man mở ra rộng lớn,
Dòng sông nối liền tới tận thành Bạch Đế sâu thẳm.
Khi thuyền đi qua Nhất Trụ Quán,
tôi sẽ lưu lại ánh mắt,
Để ngắm nhìn cảnh vật bao la (hoặc cùng anh lên cao thưởng ngoạn).
• lạc khoản:
Bài thơ của Đỗ Phủ: “Đợi Thị ngự Nghiêm Đại ở Du Châu không gặp, đi xuống hẻm núi trước”. Tháng 5 năm 1982, viết bởi Phùng Kiến Ngô, Viện Quốc Hoạ Trọng Khánh.
Bài thơ thể hiện tâm trạng hụt hẫng, nhớ nhung của nhà thơ khi dừng chân tại Du Châu (nay là Trọng Khánh) để đợi người bạn thân là Nghiêm lục thị ngự (Nghiêm Đại) nhưng bạn không tới, ông đành phải một mình lên thuyền xuôi dòng Tam Hiệp.
Để hiểu thêm bài thơ ta cũng nên biết mối quan hệ giữa Đỗ Phủ và Nghiêm Đại (tên thật là Nghiêm Vũ, chữ Nghiêm Đại nghĩa là người con trai cả/người lớn trong nhà họ Nghiêm) là một một tình bạn vong niên sâu sắc, vượt qua khoảng cách tuổi tác lẫn địa vị xã hội.
Họ vừa là quan hệ cấp trên – cấp dưới, vừa là bạn văn chương, vừa là tri kỷ hoạn nạn có sức ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời của thi hào Đỗ Phủ trong những năm tháng lưu lạc ở Tứ Xuyên, thể hiện qua các khía cạnh:
1. Nghiêm Vũ kém Đỗ Phủ đến 12 tuổi (Nghiêm Vũ sinh năm 724, Đỗ Phủ sinh năm 712). Tuy nhiên, khoảng cách này không ngăn được sự đồng điệu tâm hồn giữa hai người. Nghiêm Vũ vừa là một võ tướng dũng mãnh, vừa là người có học vấn cao, có tài làm thơ và đặc biệt kính trọng tài năng văn chương của Đỗ Phủ.
Ở thời kỳ nhà Đường, việc một vị đại thần quyền cao chức trọng chủ động kết bạn và đối xử chân thành với một nhà thơ nghèo khổ, lưu lạc như Đỗ Phủ là điều cực kỳ hiếm thấy.
2. Khi loạn An Sử nổ ra, Đỗ Phủ phải đưa gia đình chạy nạn vào Tứ Xuyên trong cảnh nghèo đói, bệnh tật. Chính tại đây, Nghiêm Vũ khi ấy đang làm Kiếm Nam Tiết độ sứ (tướng vùng Thành Đô) đã dang tay che chở cho nhà thơ: Nghiêm Vũ đã hỗ trợ tiền bạc và công sức giúp Đỗ Phủ xây dựng ngôi nhà tranh nổi tiếng bên dòng khe Hoán Hoa (Thành Đô Thảo Đường) để nhà thơ có nơi an cư lạc nghiệp.
Rồi Nghiêm Vũ lại tiến cử Đỗ Phủ giữ chức Kiếm Nam Tiết độ lý sự tham nghị kiêm Kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang (chính vì chức danh này mà người đời sau còn gọi Đỗ Phủ là Đỗ Công Bộ). Chức quan này đã giúp Đỗ Phủ có được bổng lộc để nuôi sống gia đình trong những năm tháng loạn lạc.
3. Mặc dù rất thân thiết, giữa hai người cũng không tránh khỏi những lúc va chạm do tính cách thẳng thắn của cả hai. Nghiêm Vũ là người có tính khí nóng nảy, kiêu ngạo của một vị tướng lĩnh nắm binh quyền. Đỗ Phủ lại có phần ngạo nghễ của một bậc tài tử, đôi khi say rượu có những lời lẽ lấn lướt. Giai thoại kể lại rằng có lần Đỗ Phủ say rượu, nhìn thẳng vào Nghiêm Vũ mà bảo: “Nghiêm Vũ kia, cha nhà anh và tôi vốn là bạn văn chương, thế mà nay anh lại làm cao với tôi à?”. Nghiêm Vũ nghe xong nổi giận lôi đình, thậm chí có ý định trừng phạt Đỗ Phủ, nhưng nhờ có mẹ của Nghiêm Vũ (vốn là người hiền đức và rất mến tài Đỗ Phủ) can ngăn nên tình bạn của họ mới được giữ vững.
4. Sự kiện đau lòng: Năm 765, Nghiêm Vũ đột ngột qua đời khi mới 42 tuổi. Việc mất đi chỗ dựa lớn nhất tại Tứ Xuyên khiến Đỗ Phủ vô cùng suy sụp. Ông quyết định đưa gia đình rời bỏ Thành Đô, lên thuyền xuôi dòng Trường Giang sang phía Đông.
Bài thơ “Du Châu hầu Nghiêm Đại thị ngự bất đáo…” được sáng tác chính trong hành trình lưu lạc này. Trên đường đi, Đỗ Phủ nghe tin một người họ hàng hoặc người anh em cùng tộc của Nghiêm Vũ (ở đây gọi là Nghiêm Đại Thị Ngự) cũng đang đi trên đường này nên đã dừng thuyền ở bến cát Du Châu để chờ đợi. Sự hụt hẫng khi không gặp được người bạn mới này càng làm khơi dậy niềm tiếc thương vô hạn của Đỗ Phủ dành cho người tri kỷ Nghiêm Vũ vừa nằm xuống.
Cũng nên nói thêm một số địa danh được Đỗ Phủ nhắc đến trong bài thơ, nằm trên trục đường hành hương dọc theo dòng Trường Giang (vùng Tam Hiệp ngày nay):
1. Ô Man (烏蠻) Ô Man không phải tên một ngọn núi cụ thể, mà là tên gọi cổ của các bộ tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi phía Tây Nam Trung Quốc (thuộc Vân Nam, Quý Châu và một phần Tứ Xuyên ngày nay). Câu thơ “Sơn đới Ô Man khoát” ý nói dãy núi trùng điệp nơi đây kéo dài và bao bọc lấy cả vùng đất của người Ô Man hoang sơ, mở ra một không gian vô cùng rộng lớn, hiểm trở.
2. Thành Bạch Đế (白帝城) Nằm trên núi Bạch Đế, phía bắc hẻm núi Cù Đường (một trong ba hẻm núi của Tam Hiệp), thuộc huyện Phụng Tiết, thành phố Trọng Khánh. Đây là địa danh cực kỳ nổi tiếng trong lịch sử và văn học Trung Quốc. Nơi đây gắn liền với sự kiện Lưu Bị gửi gắm con côi (thác cô) cho Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Thành Bạch Đế cũng xuất hiện trong bài thơ kinh điển “Tả từ thành Bạch Đế” của Lý Bạch. Câu “Giang liên Bạch Đế thâm” đặc tả dòng sông Trường Giang chảy xiết, sâu thẳm, nối liền mạch từ vùng Du Châu xuôi thẳng đến chân thành Bạch Đế dữ dội.
3. Nhất Trụ Quán (一柱觀) Là một ngôi quán (hoặc đài quan sát, đình nghỉ chân) nằm bên vách đá hiểm trở thuộc vùng hẻm núi Tam Hiệp trên sông Trường Giang. Cái tên “Nhất Trụ” (Một cột) gợi tả địa thế ngôi quán như một trụ đá cô độc dựng đứng giữa trời mây sông nước, là cột mốc mà các thuyền bè đi qua đều phải ngước nhìn. Câu “Nhất Trụ Quán lưu nhãn” thể hiện cái nhìn ngoảnh lại đầy luyến tiếc của Đỗ Phủ. Khi thuyền của ông trôi nhanh qua ngôi quán này, ông cố lưu lại ánh mắt để nhìn ngắm cảnh tượng hùng vĩ, đồng thời gửi gắm nỗi nhớ người bạn Nghiêm Đại chưa kịp gặp mặt.
Cũng còn nhiều chuyện để nói về bài thơ như: ý nghĩa của hình tượng “ngựa sấu” (thừa sấu) hay điển cố “mây mưa tan” (vân vũ tán) mà Đỗ Phủ đã khéo léo cài cắm trong bài thơ này. Hoặc nói riêng về kỹ thuật thư pháp mà cụ Phùng Kiến Ngô thể hiện trong từng chi tiết, nhứt là 3 dấu ấn chương, không thể nào tuyệt diệu hơn.
Nhưng bài dài quá rồi. Viết facebook dài mọi người chán đọc. Xin kết thúc bằng mấy bài dịch thơ.
Trước tiên là hai bản dịch khuyết danh tìm thấy trên mạng:
1. Bản dịch thơ năm chữ:
Nghe anh cưỡi ngựa đi,
Bên bến đợi đến nay.
Nào hay mây mưa tán,
Uổng phí khúc ngâm dài.
Núi ôm Ô Man rộng,
Sông nối Bạch Đế sâu.
Nhất Trụ Quán ngoảnh lại,
Bát ngát cảnh lên lầu.
2. Bản dịch thơ lục bát:
Nghe tin anh cưỡi ngựa đi,
Bên bờ cát đợi đến khi bấy giờ.
Ngờ đâu mây tán mưa thưa,
Khúc ngâm dài ngắn uổng chờ lòng ai.
Núi ôm Ô Man rộng dài,
Sông thông Bạch Đế xa hoài thẳm sâu.
Ngoảnh nhìn Nhất Trụ Quán đầu,
Mắt trông cảnh sắc muôn màu bao la.
• Bản dịch của ĐDT:
Nghe ông cưỡi ngựa qua đây
Tôi ra đứng đợi nơi này đã lâu.
Mỗi người một ngã ngờ đâu
Thơ bay đi mất mấy câu ngắn dài.
Ô Man núi dãy dãy bày
Kìa thành Bạch Đế sông dày sóng xô.
Thuyền qua Nhất Trụ đình không
Tôi mơ một buổi cùng ông dạo ngàn.
Tháng 8/2026
Đào Dũng Tiến

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác