Thành ngữ Điển tích : Dẫu lìa Ngó Ý còn vương Tơ Lòng
Ngày đăng: 3/06/2026 02:18:15 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)
Trong bài thơ VÔ ĐỀ nổi tiếng của Lý Thương Ẩn, một thi nhân đời Đường, có một câu thơ “Bất Hủ” với thời gian và với Văn học Việt Hoa, đó là câu :
春 蠶 到 死 絲 方 盡 , Xuân tàm đáo tử ti phương tận.
Có nghĩa : “Con tằm xuân đến chết mới hết nhả tơ “
… và chàng Thúc Sinh đã mượn NÓ để than vản với Thúy Kiều khi Hoạn Thư…”phải buổi vấn an lại nhà” là :
Dù cho sông cạn đá mòn,
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ !
Trong văn học Việt Nam, ngoài TƠ TẰM, ta còn có TƠ NHỆN như :
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?!
Nhưng…
Tằm vương tơ nhện cũng vương tơ,
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm ?!
Còn một thứ tơ nổi tiếng trong văn học và trong tình yêu nữa, đó là TƠ LÒNG… Trong LÒNG nào có TƠ ? Thưa, tròng lòng của Củ Sen, Cọng Sen và Ngó Sen. Khi ta bẻ một ngó sen, mặc dù cọng sen đã gãy đôi, nhưng trong LÒNG của 2 đầu ngó sen vẫn còn vướng mấy sợi TƠ chưa có dứt hẵn. Trong Văn học Cổ có thành ngữ : NGẪU ĐOẠN TY LIÊN 藕斷絲連. NGẪU là Củ Sen, Ngó sen. ĐOẠN là đứt. TY là Tơ. LIÊN là dính liền. Chỉ Củ sen, ngó sen mặc dù đã gãy đứt, nhưng những sợi tơ trong đó vẫn còn dính liền nhau. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những cặp đôi yêu nhau khi đã chia tay, hoặc vợ chồng mặc dù đã ly dị, nhưng vẫn còn vương vấn, dan díu nhau, như Thúy Kiều khi đã yên phận về với Từ Hải rồi, nhưng trong thâm tâm vẫn còn nhớ tới Thúc Sinh và Kim Trọng, Cụ Nguyễn Du đã hạ 4 câu thơ thật hay là :
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG !
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang.
Còn trong Văn học Mới thì TƠ LÒNG là “Tiếng Tơ Lòng”, là Tiếng đàn phát xuất từ sự rung động của con tim như Nhạc Sĩ NGUYỄN VĂN TÝ đã viết lời ca rất hay cho bản nhạc DƯ ÂM rất nổi tiếng của ông là :
“Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn Tiếng Tơ…“
Trong phạm vi Văn học cổ, thì câu “Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG!” có xuất xứ từ thành ngữ “NGẪU ĐOẠN TY LIÊN 藕斷絲連”, mà thành ngữ nầy lại có xuất xứ từ bài thơ KHỨ PHỤ 去婦 của Thi Tù MẠNH GIAO 孟郊 như sau :
去婦 KHỨ PHỤ
君心匣中鏡, Quân tâm hạp trung kính,
一破不復全。 Nhất phá bất phục tuyền.
妾心藕中絲, Thiếp tâm ngẫu trung ty,
雖斷猶牽連。 Tuy đoạn do khiên liên.
安知御輪士, An tri ngự luân sĩ,
今日翻回轅。 Kim nhật phiên hồi viên.
一女事一夫, Nhất nữ sự nhất phu,
安可再移天。 An khả tái di thiên.
君聽去鶴言, Quân thính khứ hạc ngôn,
哀哀七絲絃。 Ai ai thất ti huyền.
* Chú thích :
– KHỨ PHỤ 去婦 : KHỨ 去 là Phóng Khứ 放去 hay Khứ Điệu 去掉; có nghĩa là Buông bỏ, Bỏ đi. PHỤ 婦 là Người đàn bà, là người Vợ. Nên… KHỨ PHỤ 去婦 là BỎ VỢ, là Thôi Vợ.
– HẠP 匣 : là cái Hộp, cái Tráp. HẠP TRUNG KÍNH 匣中鏡 :là cái Kiếng cái Gương trong tráp của các bà các cô dùng để trang điểm.
– NGẪU 藕 : là Củ sen, Ngó sen . NGẪU TRUNG TY 藕中絲 : là Tơ trong củ sen, ngó sen .
– KHIÊN LIÊN 牽連 : KHIÊN là Dẫn, dắt; LIÊN là Liền nhau; Nên KHIÊN LIÊN là nắm níu, là Dây dưa, là Vướng mắc.
– AN 安 : Ở đây là Nghi vấn tự, là từ dùng để đặt câu hỏi, như :
AN TRI 安知 là “Làm sao mà biết được ?… Có biết đâu rằng ?…
AN KHẢ 安可 là “Làm sao có thể ?… Sao mà có thể ?…
AN NĂNG 安能 là “Làm sao có thể được ?… Sao mà được ?…
………………
– NGỰ LUÂN SĨ 御輪士 : là Người lính cởi trên bánh xe; Ý chỉ người lái xe, là người chủ động. Trong bài thơ chỉ “người chồng”.
– PHIÊN HỒI VIÊN 翻回轅 : PHIÊN là Lật ngược; HỒI là Trở lại; VIÊN là Cái Càng xe; Nên PHIÊN HỒI VIÊN là “Lật ngược cái càng xe trở lại”, là “Quay về đường cũ”.
– SỰ PHU 事夫 : là Thờ chồng. SỰ NHẤT PHU 事一夫 là “Chỉ thờ một chồng” như câu ngạn ngữ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên :”Trung thần bất sự nhị quân; Liệt nữ bất sự nhị phu 忠臣不事二君,烈女不事二夫”; là “Trai trung thần không thờ hai chúa, Gái tiết liệt chẳng lấy hai chồng”.
– DI THIÊN 移天 : là Dời Trời, là Lấy chồng. Theo lễ tiết của thời phong kiến Trung Hoa xưa : Con gái khi còn ở nhà thì phải thờ cha như Trời; Lấy chồng rồi thì phải thờ chồng như là Trời. Nên lấy chồng là dời Trời từ Cha sang Chồng, gọi là DI THIÊN, và Lấy Chồng thêm một lần nữa gọi là TÁI DI THIÊN 再移天. Câu thơ “安可再移天 An khả Tái Di Thiên” có nghĩa : “Làm sao có thể lấy chồng thêm một lần nữa chứ ?!”
– KHỨ HẠC NGÔN 去鶴言 : là “Lời của con chim hạc khi bay đi”, chỉ tiếng kêu của con chim hạc khi phải lìa đàn.
– Ai Ai 哀哀 : là bi ai, là buồn thương vô hạn…
* Nghĩa bài thơ :
BỎ VỢ
Lòng chàng thì như là chiếc gương trong tráp, hễ vỡ rồi thì khó mà làm cho lành lặn lại như xưa. Còn lòng thiếp thì như những sợi tơ trong ngó sen vậy, mặc dù ngó sen đã gãy rồi nhưng những sợi tơ vẫn còn vương vấn. Nhưng… Biết đâu được người lính đã lái xe đi rồi, hôm nay lại quay càng xe trở lại thì sao ?! Còn thiếp là phận gái chỉ biết thờ một chồng, làm sao có thể lại tái giá được chứ ?! Chàng hãy nghe kìa… tiếng kêu thương của con hạc lìa đàn, nó ai oán não nề như là tiếng thất huyền cầm vậy !!!…
Đây qủa tiếng lòng não nuột chân thành của một người vợ bị chồng bỏ rơi, cam chịu với số phận hẫm hiu của mình. Chàng bỏ thiếp như gương vỡ khó lành, còn lòng thiếp thì như ngó sen kia, tuy đã gãy lìa nhưng tơ tình vẫn còn vương vấn, vẫn ôm lấy hi vọng một ngày nào đó chàng sẽ “quay xe trở lại”. Bị chồng bỏ rơi nhưng không chút oán trách mà vẫn thủ tiết để sẵn sàng chờ ngày chàng hồi tâm chuyển ý, mặc dù luôn sống trong cảnh bi ai buồn thương sầu não như cánh hạc lìa đàn kêu thương như bảy dây đàn ai oán !!!…
Hai câu 3,4 của bài thơ trên là xuất xứ của thành ngữ “NGẪU ĐOẠN TI LIÊN 藕斷絲連”. Có nghĩa : “Ngó sen, củ sen tuy đã gãy lìa, nhưng những sợi tơ bên trong vẫn còn dính liền không đứt”. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ : Việc gì đó tuy đã kết thúc, giải quyết dứt điểm rồi; nhưng vẫn còn vướng mắc, dính líu đến những hệ lụy trước mắt hay về sau… Như : Đã lập gia đình rồi, nhưng vẫn còn tưởng nhớ đến người yêu cũ… Như Thúy Kiều khi đã an phận với Từ Hải rồi, nhưng vẫn nhớ về chàng Thúc Sinh và Kim Trọng năm xưa; Cụ Nguyễn Du đã viết :
… Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG.
Duyên em dù nối chỉ hồng,
May ra khi đã tay bồng tay mang !…
* Diễn Nôm :
KHỨ PHỤ
Lòng chàng như kính điểm trang,
Vỡ rồi khó vá biết làm sao hơn ?
Lòng thiếp như ngó sen thường,
“Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”!
Xe chàng rong rủi thong dong,
Biết đâu nay lại hồi tâm quay về ?!
Phận thiếp cam chịu một bề,
Thờ chồng suốt kiếp chẳng hề thở than,
Chàng ơi, nghe tiếng hạc ngàn,
Não nề tựa bảy dây đàn bi ai !!!
Có ông chồng nào còn “nhẫn tâm” không chịu “quay xe trở lại” khi nghe những lời chung tình đầy bi thương ai oán trung trinh tiết liệt nầy nữa chứ ?!…
* Tiểu sử Tác giả :
Sau đây là bài thơ ngũ ngôn nổi tiếng nhất của Mạnh Giao, đó chính là bài “DU TỬ NGÂM 遊子吟” như sau :
慈 母 手 中 线, Từ mẫu thủ trung tuyến,
遊 子 身 上 衣. Du tử thân thượng y.
临 行 密 密 缝, Lâm hành mật mật phùng,
意 恐 遲 遲 歸. Ý khủng trì trì quy.
誰 言 寸 草 心, Thùy ngôn thốn thảo tâm,
報 得 三 春 暉? Báo đắc tam xuân huy ?
Bài thơ có tựa là “KHÚC NGÂM của NGƯỜI DU TỬ”, người lãng du phiêu bạt giang hồ nhớ về Mẹ như sau :
Sợi chỉ trong tay bà mẹ hiền, khâu nên chiếc áo ở trên mình người du tử. Lúc ra đi, mẹ đã từng mũi từng mũi một khâu thật chắc, ý sợ rằng con mình mê mãi thú giang hồ mà nấn ná dần dà trễ tràng trở về quê cũ. Ai bảo rằng tấc lòng của cọng cỏ non kia, có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân chứ ?.(Trong mùa đông thì cỏ chết rụi cả, chỉ sống lại nhờ ánh nắng của ba tháng mùa xuân mà thôi!).
DU TỬ NGÂM
Kim chỉ trên tay từ mẫu,
Khâu nên áo lãng du nhân.
Khi đi chắc chiu từng mũi,
Sợ ngày về lắm lần khần.
Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,
Báo đền được nắng ba xuân ?!
Lục bát :
Đường kim mũi chỉ mẹ hiền,
Khâu nên chiếc áo trên mình lãng du,
Chắc chiu từng mũi từng khâu,
Sợ e con trẻ đi lâu chửa về
Ai rằng tấc cỏ bên lề,
Báo đền được ánh nắng về ba xuân ?!
Ôi, nỗi lòng thương con của bà mẹ thật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại bao la sâu rộng vô cùng. Bà không trách con đi lâu, cũng không buộc con phải về sớm, vì bà biết tánh lãng tử của con mình. Bà chỉ âm thầm chắc chiu từng mũi kim cho thật chặc, chỉnh e khi ở xứ lạ quê người, áo của con bị sứt chỉ đường tà sẽ không có ai khâu hộ. Việc tuy nhỏ nhặt, nhưng lại hàm chứa biết bao nỗi thương yêu lo lắng của Mẹ Hiền. Mạnh Giao đã kết bằng cách mượn nỗi lòng của một tấc cỏ nhỏ nhoi, thì làm thế nào có thể báo đáp cho được ánh nắng ấm áp của 3 tháng mùa xuân đã mang sức sống và xanh tươi đến cho cây cỏ và vạn vật muôn loài cho được !
Khi diễn tả Thúy Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ “Liều” một cách rất tài tình :
Hạt mưa xá nghĩ phận hèn
LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !
Sự thật, bán mình chuộc cha thì Thúy Kiều có thể nói đã hoàn toàn trả được chữ hiếu rồi !(hết đời rồi , còn gì nữa !) : “Bán mình là hiếu, cứu người là nhân” mà, và như Sư Tam Hợp đã nói : “Bán mình đã động hiếu tâm đến trời“. Nỗi lòng “tấc cỏ” của Thúy Kiều khả dĩ nói là đã đáp đền được “ánh nắng của ba xuân” rồi. (hay chưa ?!).
Bản viết tay của ĐCĐ 2011 và Bản chữ Thảo trên mạng
Tuy nói là Mạnh Giao chuyên về thơ ngũ ngôn, nhưng thơ thất ngôn của ông cũng rất đặc sắc…
Năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), Thi Tù Mạnh Giao đã 46 tuổi, phụng mệnh của mẹ đi ứng thi lần thứ ba, và lần nầy thì ông đậu ngay Tiến Sĩ cập đệ. Nỗi mừng biết lấy chi cân, ông vội vả về ngay quê nhà để báo tin vui với mẹ. Và cũng trong ngày vui trọng đại có hơi muộn màng nầy, ông đã làm một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt “Đăng Khoa Hậu 登科後” để đời như sau :
昔日齷齪不足夸, Tích nhật ác xúc bất túc khoa,
今朝放蕩思無涯。 Kim triêu phóng đãng tứ vô nha.
春風得意馬蹄疾, Xuân phong đắc ý mã đề tật,
一日看盡長安花。 Nhất nhật khán tận Trường An hoa !
Có nghĩa :
Ngày xưa hèn mọn chẳng cần bàn,
Phóng đảng hôm nay tứ ngút ngàn.
Đắc ý gió xuân mau vó ngựa,
Một ngày ngắm hết hoa Trường An !
Bài thơ đắc ý nêu trên đã hình thành đến hai thành ngữ để đời mãi cho đến hiện nay vẫn còn thông dụng là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 để chỉ những việc ĐẮC Ý trong đời sống hàng ngày như : Thi đậu, làm ăn thành đạt, trúng số, có được người yêu, kết hôn… và TẨU MÃ QUAN HOA 走馬觀花, ta nói là CỞI NGỰA XEM HOA. Thành ngữ nầy lúc ban đầu dùng để chỉ gặp được việc xứng ý toại lòng và tâm lý vui vẻ, nhưng hiện nay thường dùng để chỉ việc gì đó chỉ làm hoa loa, lấy có, làm một cách hời hợt chiếu lệ cho xong việc … “Cởi Ngựa Xem Hoa” thì làm sao mà xem cho kỹ được !
