ĐÌNH THẦN TÚ TỀ

Ngày đăng: 24/06/2026 10:26:24 Sáng/ ý kiến phản hồi (0)

Mấy hôm trước tôi viết bài Chợ Chi Lăng Và Quán Xá, được nhiều bạn ưa thích và khen ngợi. Xin cám ơn các bạn, điều này khích lệ tôi rất nhiều.

Trong bài đó, tôi có nhắc tới cái tên xưa của vùng đất này là làng Tú Tề, được vua Minh Mạng đặt cho từ năm 1824, khi vua Ang Chang II của Thuỷ Chân Lạp dâng tặng và tôi có cảm thán, cái tên Tú Tề không còn sau 155 năm tồn tại, khi làng Tú Tề chia 3, lập nên thị trấn Chi Lăng, xã Núi Voi và xã Tân Lợi vào năm 1979.

Bạn Nguyễn Trung Hiếu đã thân ái nhắc tôi, tên Tú Tề vẫn còn ở “chứng tích” là Đình Thần Tú Tề.

Đây đúng là một sơ sót không chấp nhận được của tôi. Xin cám ơn bạn Nguyễn Trung Hiếu rất nhiều.

….

Tôi đã đi ngang qua ngôi đình này nhiều lần nhưng không có vào trong thăm viếng. Nhân được bạn Hiếu nhắc, liền đi xem và trùng hợp thay, ngày mùng 9 và 10 tháng 5 âm lịch này (23, 24/06/2026) lại là lễ Kỳ yên của đình, nên có bài xin lỗi và bổ sung.

Đình thần Tú Tề hiện nay nằm trên địa bàn khóm Voi 1, phường Chi Lăng tỉnh An Giang, trong một khuôn viên chỉ rộng tầm 1.000 m2, ngay chợ Voi. Phía sau và hơi chếch về bên trái, nhìn từ trong ra, là Tổ đình Phi Lai của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phía sau nữa là núi Kỳ Hương, tên chữ của núi Voi. Rõ ràng quần thể này tạo nên một không gian văn hóa tuyệt đẹp.

Không biết đình được tạo dựng từ năm nào nhưng do có chùa Phi Lai phía sau, mà chùa Phi Lai vốn là một Trại Ruộng của Bửu Sơn Kỳ Hương được Phật Thầy Tây An cho lập từ những năm 1850. Tôi đồ rằng, đình Tú Tề cũng được xây cất trong khoảng thời gian đó, theo kiểu tiền đình hậu tự rất phổ biến ở các cơ sở của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.

Đình được trùng tu gần đây nhứt vào năm 1999. Ngôi chánh điện gọn nhỏ nhưng vẫn được kiến tạo đầy đủ theo mô hình đình làng Nam bộ. Tuy đã thay bằng các vật liệu xây dựng hiện đại: tole, xi măng, sắt thép… nhưng nóc cổ lầu cũng có lưỡng long triều nhựt. Các đầu đao không tạo nét cong, vẫn có các tượng linh thú đứng ở bốn hướng.

Mặt trước của cổ lầu đắp nổi bốn chữ Nho lớn trang trọng: 廟 神 齊 秀, Tú Tề Thần Miếu. Nhờ bốn chữ này mà chúng ta hiểu thêm mỹ ý của tiền nhân khi đặt tên cho làng:

  • Tú (秀): đẹp đẽ, tươi tốt, kiệt xuất. Thường chỉ đất đai màu mỡ, phong cảnh xinh đẹp, hoặc con người tài giỏi.
  • Tề (齊): Chỉ sự chỉnh tề, ngay ngắn, đồng đều, ngầm mang ý “cùng nhau”

Thành ra tên “Tú Tề” có thể hiểu là “Nơi đất đai tươi tốt, phong cảnh đẹp đẽ và dân cư chỉnh tề, đoàn kết”.….

Phía trước chánh điện có một gian thảo bạt, chắc là giữ chức năng của một tiền điện, võ quy. Không có võ ca. Bên ngoài nữa, sát với hàng rào đường lộ là miếu Thần Nông nhìn thẳng vào chánh điện.

Bên trong miếu Thần Nông có tượng Thần Nông rất độc đáo. Cao chỉ khoảng 25 cm, ngồi trên một gốc cây (tảng đá?). Kế bên là một hồ lô rượu (nước?). Điều đặc biệt là tượng này quấn một cái váy lá cây, tay chân có móng vuốt. Tay mặt cầm một vật như là nọc cấy, tay trái cầm một nhánh lá có nụ bông. Đầu nhú 2 u sừng nhỏ. Chân mày rậm, râu rậm, mặt cười tươi. Không biết tượng này được tạc theo mô tả nào? Nhưng rất hóm hỉnh và vui vẻ.

Lưng phía sau của miếu đắp nổi tượng long mã hà đồ, người đi ngoài lộ nhìn vào rất rõ. Có lẽ giữ luôn chức năng là tấm bình phong, thường thấy ở các đình làng khác.

Tôi nghĩ rằng, ngôi miếu Thần Nông này là di tích xưa của đình còn được lưu giữ, qua nhiều lần trùng tu.

Hai bên miếu Thần Nông có 2 miếu nhỏ hơn, đâu mặt vào nhau là miếu Ngũ hành và miếu Sơn thần.

Chánh điện có 3 gian và theo đó có 3 dãy bàn thờ. Dãy bàn thờ ở gian giữa, ngay cửa bước vào là bàn thờ Quan Thượng Đẳng Đại Thần (và) Tam Thập Vị Anh Hùng, có ảnh chân dung của ông Nguyễn Trung Trực và tấm hình ghép chân dung 30 vị anh hùng dân tộc. Điều lý thú là trong đó có tên và hình ảnh các vị: Phan Thanh Giản, Cường Để, Hàm Nghi, Duy Tân, Nguyễn Thái Học, Cô Giang, Cô Bắc… Đây là một trong những điều độc đáo của ngôi đình này.

Sau lưng bàn thờ là ngôi long đình, thường được dùng trong việc rước sắc thần dịp lễ Kỳ yên.

Kế đó là bàn thờ trưng bày ảnh chụp sắc thần để trong một lồng kiến.

Nằm ngay trung tâm, giữa 2 giá lỗ bộ là bài vị và bức tượng nhỏ của Tả quân Lê Văn Duyệt.

Trong cùng và cao nhứt là bàn thờ chánh: bàn thờ Tam Vị Đại Thần có ba bậc. Trên hết là một khám thờ bằng gỗ, chạm trổ kỳ công. Bên trong là chân dung đức Tả quân. Bậc thấp kế là chân dung Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bậc dưới nữa là chân dung ông Thoại Ngọc Hầu.

Năm 2023, Ban Quý Tế đình đã sao lưu, phiên âm và dịch nghĩa sắc thần đặt trang trọng trong chánh điện. Xin chép lại như sau:

  • Nguyên văn (phiên âm Hán Việt):

“Sắc Châu Đốc tỉnh, Thành Ý tổng, Tú Tề thôn, phụng sự Đốc Bộ Chi Thần, nhẫm trứ linh ứng, tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, trứ phong vị Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần, chuẩn kì phụng sự, thần kì tương hựu, báo ngã lê dân. Khâm tai!

Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật. Ấn: sắc mệnh chi bảo.”

  • Bản dịch:

“Sắc cho thôn Tú Tề, tổng Thành Ý, tỉnh Châu Đốc phụng thờ Đốc Bộ Tôn Thần, đã có công hộ nước giúp dân, từ lâu rõ đầy linh ứng. Nay nhân dịp trẫm mừng thọ tứ tuần đại khánh, nên ban bảo chiếu này, gia ơn ban thêm phẩm trật cao hơn, nay phong là Dực Bảo Trung Hưng Linh Phù Tôn Thần. Chuẩn cho dân làng phụng thờ, thần hãy cùng nhau phù hộ, bảo vệ cho lê dân của ta. Hãy tuân mệnh.

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9. (Ấn)”

Như vậy sắc thần được vua Khải Định ban cho vào ngày 25 tháng 7 năm Giáp Tý 1924, và không có tên cụ thể một vị nào.

Nhưng như chúng ta đã thấy, ngoài vị Thành Hoàng Bổn Cảnh, đình Tú Tề chánh thức thờ vọng 3 vị đại anh hùng đã có công rất lớn khai cơ định cõi cho dân miền Nam là các vị:

  • Thượng công Tả quân Lê Văn Duyệt,
  • Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,
  • Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại,

Bức hoành phi đại tự sơn son thiếp vàng, treo giữa với 5 chữ : 神位三暉映 : Thần Vị Tam Huy Ánh, “Ba vị Thần hào quang rực rỡ chiếu soi”. Khẳng định thêm sự trân trọng và nhớ ơn của dân làng đối với ba vị đó.

Điều này cũng được minh định ở ngay hai câu đối cổng đình:

  • Câu đối vế trái:

宿將弁兵福民可拜三公爵  Túc tướng biện binh phúc dân khả bái tam công tước.

“Danh tướng lão luyện cùng binh sĩ ban phúc cho dân, xứng đáng được bái lạy là ba vị tước Công.”

  • Vế phải:

齊家治國壽聖能呼萬歲聲 Tề gia trị quốc thọ thánh năng hô vạn tuế thanh.

“Tề gia trị quốc, chúc thọ bậc thánh, vang vọng tiếng reo muôn năm.”…

Trở lại với chánh điện, hai bên bàn thờ chánh là các bàn thờ Tả ban, Hữu ban. Thờ các vị quan văn võ cận sự của chư thần.

Trên bàn Tả ban có tấm hoành phi 4 chữ: 泰 啟 恩 神: Thái Khởi Ân Thần,

“Thần ban ân huệ thái bình”, hoặc “Thần mở ban ân huệ thịnh vượng”.

Bàn Hữu ban có 4 chữ: 護 國 毗 民: Hộ Quốc Tí Dân,

“Che chở đất nước, phù hộ dân chúng”, hoặc “Bảo hộ quốc gia, che chở cho dân”.

Hai dãy bàn thờ ở hai gian bên là các bàn thờ đâu mặt nhau từng cặp: Tiền Hiền – Hậu Hiền, Tiền Vãng – Hậu Vãng, Bạch Mã – Thái Giám.

Điều cực kỳ quý báu là đình Tú Tề vẫn lưu giữ được danh sách rõ ràng các vị Tiền Hiền Hậu Hiền của địa phương. Các vị đã có công khai phá tạo lập vùng đất này và sau đó là các vị hương chức, hương sự của làng qua các thời kỳ. Điều mà nhiều đình làng khác không làm được.

Gian phía sau của chánh điện thể hiện rõ nguồn gốc của ngôi đình. Đâu lưng với bàn thờ Tam Vị Đại Thần phía trước là bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ, thờ Phật Thầy Tây An. Trên vách là tấm trần điều của Bửu Sơn Kỳ Hương. Đặt đối diện với bàn thờ này là bàn thờ Ông Bà Hai Gò Sặc, tức là ông Hai Lãnh, một trong những vị đại đệ tử của Phật Thầy, được giao trông coi Trại Ruộng, sau này là chùa Phi Lai, như đã nói ở trên.

Điều này giúp thêm cho tôi tin rằng, đình Tú Tề được Phật Thầy Tây An tạo lập đồng thời với Trại Ruộng, tức vào khoảng 1850.…

Đình Thần Tú Tề đúng là nơi thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh công lao khai phá biên cương và bảo vệ dân tộc của các danh thần nhà Nguyễn. Các hoành phi, câu đối đều hướng đến việc ca ngợi uy linh, ân đức và công trạng “Hộ quốc tí dân” của Tam vị đại thần.

Và mặc cho ai nói gì thì nói, những người có công với đất nước, che chở bảo hộ cho dân làng, luôn được dân làng tôn kính và thờ phượng.

Lành vậy thay!

Chi Lăng, ngày Kỳ Yên đình Tú Tề,

Mùng 9-10 tháng 5 âl (23-24/06/2026 )

Đào Dũng Tiến

h6

h7

h8

h9

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác