CHUYỆN NGHỀ- CHUYỆN ĐỜI: CHUYỆN CỦA BẠN TÔI
Tính hay nói lang thang cà vòng, về những điều mình đọc, mình nghe, mình thấy, mình cảm, mình suy tưởng, nên sợ mất thời gian của mọi người, tôi xin viết ra đây một vài suy nghĩ của mình, sau khi đọc cuốn “Chuyện nghề chuyện đời và những trang trang sách đỏ” của Nguyễn Trọng Dũng. Với cuốn sách khổ lớn 14.5×20.5 cm và hơn 400 trang, Nguyễn Trọng Dũng khéo léo gói vào trong đó đủ thứ chuyện của một miền quê, những miền quê, một vùng đất, nhiều vùng đất, một con người, nhiều con người, dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều cách nhìn khác nhau. Điều đó khiến tôi khâm phục. Tôi khâm phục vì Nguyễn Trọng Dũng biết cách khai thác sức mạnh của báo chí thành hình tượng tác phẩm văn học. Sức mạnh của văn học là tình. Sức mạnh của báo chí là lý trí. “Chuyện nghề chuyên đời và những trang sách đỏ” đã kết hợp khá hài hòa được hai yếu tố ấy vào với nhau, Và từ cương vị một người bạn thân, từng gắn bó với Nguyễn Trọng Dũng trong công tác báo chí, tôi nhận ra ngay sự khéo léo của anh trong việc sử dụng rất nhiều kịch bản làm phim tư liệu của mình, biến chúng thành tác phẩm văn học. Điều ấy gọi là nhất cử lưỡng tiện.

Tôi nhớ khi Nguyễn Trọng Dũng đi làm phim mùa chuột ở biên giới An Giang về, anh điện gọi tôi ra Lưu Bình Quán, đập phá tưng bừng một két bia Sài Gòn, hồ hởi kể một cách say mê về lửa đốt đồng, về cách dậm cù bắt chuột, về những cái rập chuột. Vậy là phim tư liệu ra đời, đặt nền móng cho tác phẩm “Chợ chuột Bình Long” xuất hiện. Và rồi anh đi Thơm Rơm làm phim tư liệu về nghề lưới chì trên sông, mua về tặng tôi một hủ mắm cá rô. Tôi cảm ơn anh cho tôi biết, Thơm Rơm đâu chỉ có mùi thơm của rơm rạ, Thơm Rơm còn có những tay lưới lập lờ trên sông mà hái ra tiền. Còn bây giờ thì “Thơm Rơm- rộn ràng xóm lưới” hiện hình thành tác phẩm văn học trong cuốn sách. Tôi nói vậy để khẳng định, chuyện nghề và chuyện đời được Nguyễn Trọng Dũng lồng ghép vào nhau, như thể ta lồng ghép lá trầu và miếng cau vào với nhau, rồi pha thêm một chút cảm xúc, như thể người ta têm vôi, vậy là thành duyên thắm. Dân dã dân gian một cách tận cùng cuộc sống bình dân của người lao động.
Cái làm nên chất gần gụi và thân thương của văn chương Nguyễn Trọng Dũng chính là sự bình dân, mộc mạc và chân tình ấy. Chẳng hạn tác phẩm “Ba Bường- chuyện chưa kể về một người con ưu tú”, được viết một cách hết sức dung dị, cho ta thấy một con người cũng hết sức dung dị, nhưng lại có tầm vóc của một con người biết cách sống để làm người- Phạm Thái Bường. Và đọc xong, tự nhiên ta thấy đường Phạm Thái Bường thân quen đẹp hẳn lên một cách dung dị. Có lẽ cái gọi là chuyện đời, là chuyện về những con người có thể chinh phục ta, lay động ta, thuyết phục ta, buộc ta phải suy nghĩ và hành động cùng với họ; như chuyện về cô Xuân Phượng dầm mình dưới hầm nước cả ngày, để đến đêm đội hầm chui lên, gõ cửa nhà dân, tự xưng là chiến sĩ giải phóng quân, xin được cưu mang che chở, để có điều kiện hoạt động trong lòng địch. Và cũng chính bằng sự chân thật ấy, Xuân Phượng còn chinh phục được cả một tên lính ngụy, biến hắn thành cảm tình của cách mạng. Chuyện đời của những con người như vậy nhiều lắm, Trong bài viết về Bưng Sẫm, trong bài viết về người dân công xe đạp thồ chở gạo cho mặt trận Điện Biên, tôi bắt gặp sống động trong hàng loạt tác phẩm của cuốn sách. Họ là người thật, việc thật, được Nguyễn Trọng Dũng lặn lội tìm hiểu, ghi chép viết thành kịch bản phim tư liệu, rồi từ đó hóa thân thành nhân vật văn học. Bởi vậy, “Cuốn chuyện đời chuyện nghề và những trang sách đỏ” được tác giả ghi rõ là cuốn bút ký- nghĩa là tính báo chí vẫn nhiều hơn tính văn học. Tôi xin nói thêm điều này. Tính từ năm 2020 đến nay, Nguyễn Trọng Dũng liên tục cho ra đời năm tác phẩm, thì cả năm tác phẩm chủ yếu đều mang tính ký báo chí, kể lại những chuyện có thật mang màu sắc báo chí rất rõ.
Tôi xin nói, những chuyện như nuôi vịt chạy đồng, cắt cỏ chạy đồng, chuyện cơn bão Asen hoành hành các làng nghề nước mắm, chuyện gia tộc nước mắn ở cù lao An Bình, chuyện về Cồn Tàu, chuyện về tiểu ban văn nghệ, chuyện huyền tích Hòn Sơn, chuyện về Côn Đảo, chuyện về người gieo chữ trên vùng đất trăm chùa… đọc lên vẫn chỉ thấy đó là những bài báo đã được tác giả gia công, chứ chưa hẳn là tác phẩm văn học. Bởi vậy, từng mẫu chuyện được Nguyễn Trọng Dũng nêu ra, rất được người đọc tin tưởng- như kiểu người ta tin vào báo chí. Chẳng hạn chuyện kể về Homstay của Út Trinh, tôi thấy trong chuyến thâm nhập thực tế cù lao của Nguyễn Trọng Dũng có Văn Hiến Vĩnh, nên tính thuyết phục trội hẳn. Hay như bài viết về nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn, tôi mới nhìn qua tựa đề, đã nghĩ tác giả sẽ làm sống dậy một nhạc sĩ tài hoa của Vĩnh Long, trong những ngày đầu kháng Pháp; nhưng thực tế, tác giả cũng chỉ thận trọng dừng lại ở một bài ký báo chí. Tôi nghĩ rằng, đó cũng là bản tính chính xác trong viết lách của một nhà báo- tức là biết đến đâu viết đến đó. Tôi nghĩ rằng bài hát “Nam Bộ kháng chiến” là một tác phẩm lớn của đất nước, có tiếng vang rất lớn, nên sẽ có rất nhiều người muốn biết về tác giả, nhất là vì sao ông chỉ viết duy nhất có một bài hát ấy, và chúng ta đối xứ với ông ấy như thế nào. Tất nhiên để làm được điều đó, Nguyễn Trọng Dũng cần phải tìm hiểu rất nhiều vấn đề, liên quan đến một tài năng cụ thể của nước nhà- và xin nói, trước khi đọc bài này, tôi rất hy vọng vào điều ấy, bởi Nguyễn Trọng Dũng và Tạ Thanh Sơn đều quê ở Trà Ôn.

Cuối cùng, tôi xin nói về một tác phẩm mà tôi rất thích trong cuốn sách. Đó là bài HÒN VỌNG PHU BÊN NHÁNH SÔNG HÒ HẸN. Xin thưa, mới đọc tên tác phẩm, đã thấy ngay đây là một truyện ngắn, hoặc chí ít cũng là một tùy bút hay một bút ký văn học. Trên thực tế, tác phẩm mà tôi rất yêu thích này cũng chỉ là một bút ký- bút ký nổi trội nhất của Nguyễn Trọng Dũng trong toàn bộ bút ký của ông. Tất nhiên tôi không thể đòi hỏi thiên bút ký này trở thành một truyện ngắn, bởi hai chữ bút ký đã được ghi rõ trên bìa cả tập sách(nó chính là tuyên ngôn bó buộc tác giả vào khuôn khổ). Tôi chỉ muốn nói rằng, các dữ liệu mà Nguyện Trọng Dũng nhặt nhạnh để dựng nên tác phẩm này, đủ sức nâng tầm lên thành một truyện ngắn hay. Và tôi nghĩ, với nguồn tư liệu sẵn có trong tay ấy, Nguyễn Trọng Dũng sẽ có một truyện ngắn hay và độc đáo. Nhưng rất tiếc là tác giả đã không đi theo hướng này, ông đi đúng con đường báo chí của ông, nên chỉ cống hiến cho chúng ta một bút ký báo chí hay. Tôi không nghĩ đó là sự thận trọng trong viết lách của tác giả, tôi chỉ nghĩ là do tác giả chỉ muốn dừng lại trong khả năng báo chí của mình. Tôi xin lấy ví dụ về tác phẩm “Đỏ thắm sắc hoa phương Nam”, là một tác phẩm có nhiều dữ liệu quý, mà các nhà viết truyện vớ được, chắc chắn còn quý hơn vàng. Đó là một cô gái trẻ, mảnh mai, xinh đẹp, lại đủ sức ngâm mình dưới nước cả ngày trời. Rồi bản lĩnh và sự thông minh của cô khi phải đối mặt với một tên sĩ quan ngụy. Và đặc biệt là chi tiết người bạn trai họa sĩ hy sinh, đồng đội phải cưa đôi chiếc xuồng làm quan tài. Nếu gia cố thêm sức tưởng tượng, chắc chắn hai bút ký báo chí này sẽ là hai truyện ngắn vô cùng độc đáo.
Tôi đọc qua cả năm tác phẩm mà Nguyễn Trọng Dũng tặng, tôi nhận thấy, thế mạnh của ông là thế mạnh của ký báo chí. Và chỉ cần khai thác tốt thế mạnh này, đã đủ làm nên sức mạnh tác phẩm của Nguyển Trọng Dũng. Sức lay động lòng người của “Chuyện nghề chuyện đời và những trang sách đỏ”, chính là sức mạnh của những tình tiết có thật, trong chiến tranh, trong thời bình, được viết lên một cách chân thành, mộc mạc. Đó là sự lao động sáng tạo rất dày công, cho thấy con người Nguyễn Trọng Dũng là con người có lối sống ngăn nắp, chu đáo, chịu dân thân tìm kiếm, sàng lọc và chắt lọc tư liệu cuộc đời, rồi suy nghĩ và nghiền ngẫm viết thành tác phẩm. Cuốn sách “Chuyện nghề chuyện đời và những trang sách đỏ” như là một biên niên sử mang tính giai đoạn của một vùng đất, rất có ích cho những ai muốn tìm hiểu về vùng đất ấy- Nam Bộ.
Hồ Tĩnh Tâm
14.9.2026
