KÝ ỨC LẤP LÁNH TRONG GOI MIỀN THƯƠNG NHỚ

Ngày đăng: 16/06/2026 08:28:50 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Không biết phải gọi tên một trăm đoản văn trong cuốn sách này của anh Trần Vọng Đức là gì, du ký, tạp văn, hay tản văn? Có lẽ nên gọi chúng là đoản thiên tùy bút – một thể loại la đà giữa văn chương và thông tấn, giữa tự sự và trữ tình chăng?

Trong mường tượng của tôi, chúng là cả một gia tài vô giá không dễ gì đánh đổi, gia tài của một nhà báo từng trải, một người cầm bút luôn biết nâng niu những cái đẹp mong manh, thoáng qua từ cuộc sống bình dị thường ngày. Tôi thấy chúng như những viên sỏi nhỏ lấp lánh, lung linh sắc màu ký ức. Dường như một ngày kia, chúng được người lữ hành sực nhớ tới và nhẹ nhàng lấy ra từ đáy chiếc ba lô bạc sờn, sau một dặm dài miệt mài và mệt nhoài cùng những cung đường gió bụi. Mỗi viên sỏi gợi nhắc một sự kiện, một chuyến đi, với cơ man là dư vị vui buồn nghiệm sinh mà chủ nhân đã nếm trải. Những viên sỏi ấy cám dỗ bao ánh mắt hiếu kỳ, mang cho họ cảm giác bất ngờ, thích thú hệt như khi chiêm ngưỡng châu báu. Không chỉ vậy, tôi tin, đôi khi chúng khiến cho ngay cả vị chủ nhân cũng thảng thốt, bần thần… bởi thứ ánh sáng từ chúng đánh thức cả một trời kỷ niệm tưởng đã ngủ yên.

Làm báo lâu năm, bản lĩnh nghề nghiệp và nhiệt huyết có thừa, lại sẵn hứng thú phiêu lưu, xê dịch, một tâm thế “tay siêng làm lụng, mắt hay kiếm tìm” (Xuân Diệu), Trần Vọng Đức luôn tận dụng mọi chuyến đi và cả những kẽ hở giữa các chuyến công tác để “thay đổi thực đơn cho giác quan”. Anh vừa tranh thủ thưởng ngoạn, vừa tốc ký muôn vàn vẻ đẹp kỳ tuyệt, bí ẩn của trời đất, của con người và cuộc sống ở khắp các xứ sở, vùng miền. Dấu chân anh rải khắp các nẻo đường quê hương, từ Hà Nội, Huế, Sài Gòn, rồi Tây Bắc, Việt Bắc, đồng bằng sông Hồng, các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng Tây Nam Bộ và một số quốc gia trên thế giới. Không ít những quan sát, phát hiện thú vị, những nụ cười vui, hóm và ấm áp từ cảnh sắc, phong tục, sản vật, con người Việt Nam: xe đạp lôi ở Châu Đốc; tổ chim cu trên sân thượng; bí kíp trường thọ của già làng Điểu Đố ở Bù Đăng; chuyện về những người thích “tắm tiên” ở bãi sông Hồng; hay tên Cồn Lu, Cồn Lặc ở cửa Ba Lạt – nơi sông Hồng về với biển… Nhưng, nhiều nhất, ấn tượng nhất với tôi là những câu chuyện nửa đắng nửa ngọt, dở khóc dở cười: chuyện những chợ nổi miền Tây sông nước đang dần nhếch nhác, èo uột theo trào lưu du lịch kiểu “ăn xổi”; chuyện làng gốm Khánh Cường, tỉnh Quảng Ngãi đang thoi thóp; chuyện sông Hương vắng cá; chuyện bữa cơm gạo bở vô lý và đạm bạc đến ngậm ngùi ở thôn Na Léng của xã đẹp nhất Việt Nam – xã Bản Phùng, tỉnh Hà Giang cũ; chuyện tấm lưới hơn trăm mét “kéo lên được duy nhất một con… ốc mượn hồn” ở biển miền Trung sau thảm họa Formosa… Thảng hoặc, tác giả còn khiến ta giật thót vì những cú “lia máy” vào những khoảng mờ xám, trống vắng, hiu hắt, thắt nghẹn: chuyện “Về sông Gianh thấy máu”; chuyện mưu sinh nhọc nhằn ở Cửa Việt, ở Gio Linh; chuyện người đàn bà đơn độc lặng thinh mót lúa trên cánh đồng vàng bát ngát Nam Bộ; chuyện những đứa trẻ người Rục bản Mò O Ồ Ồ nghèo đói xác xơ chưa từng biết Trung Thu là gì ở Minh Hóa, tỉnh Quảng Bìnhcũ; chuyện ở cột mốc ba biên giới nơi ngọn đồi gần cửa khẩu Bờ Y, tỉnh Kon Tum cũ, khi anh em mua nhang định thắp mấy tấm bia tưởng là bia mộ liệt sĩ, lại gần mới hay đó là bia tôn vinh, ghi danh ông Tèo bà Tí trồng cây lưu niệm…

Đọc du ký, tạp văn, hay tản văn, đôi khi cái ý vị không hẳn ở câu chuyện mà ở hơi văn, giọng văn. Một câu trữ tình ngoại đề tưởng chừng vô lý, bâng quơ nhưng “thả” đúng chỗ có thể làm câu chuyện ngỡ nhẹ tênh tầm phào bỗng nhiên trĩu nặng, ám ảnh đến không ngờ. Trần Vọng Đức luôn sẵn những bâng quơ, vu vơ như thế, chẳng hạn: Chiến tranh không có biên giới của nỗi đau. Cả hai phía đều khóc cùng bằng nước mắt”hoặc: “Thế gian ngày càng bé nhỏ, liệu lòng người có gần gũi, thân thiện hơn chăng?”.

Cuốn sách cuốn hút ngay từ trang đầu với những câu chuyện nhẹ nhàng, dung dị nhưng không ít trang ám ảnh, đọc qua rồi muốn đọc lại, đọc mãi. Chỉ là những chuyện đời, chuyện nghề ngẫu hứng nhớ đâu kể đó, tưởng ai cũng phóng bút viết được, kỳ thực thứ văn ấy viết không dễ. Nó không phải câu chữ, mà là ký ức trào ra trang giấy.

Như thể nhắp một ngụm hững hờ, tưởng nước suối, một hồi mới biết mình vừa nhắp nhầm thứ rượu tăm đậy nút lá chuối lâu ngày.

Nhà thơ Cao Xuân Sơn

Nhà báo Trần Vọng Đức

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác