THĂM MIẾU THÀNH HOÀNG BỔN CẢNH Ở BÀN CỜ -SÀI GÒN (Bài 1)

Hôm trước tôi và hai anh bạn già U80 đến thăm Miếu Thành Hoàng Bổn Cảnh ở vùng Bàn Cờ, phường Vườn Lài, Sài Gòn. Thật ra chúng tôi có ý định đi thăm miếu ban đầu chỉ vì tò mò. Một là tò mò vì cái tên “Thành Hoàng Bổn Cảnh” của miếu. Thông thường thần thành hoàng được thờ tại các “đình”, không phải ở miếu. Hơn nữa danh hiệu Thành Hoàng Bổn Cảnh được vua Tự Đức sắc phong năm 1852 cho chung các thần được thờ tại các đình, còn “Miếu” này không phải là đình, lại được xây dựng trước thời Tự Đức khá lâu, vào năm 1807 thời vua Gia Long. Cho nên ít nhất gần 50 năm đầu, tên của miếu không thể là Thành Hoàng Bổn Cảnh?! Hai là khi tìm hiểu trên mạng tôi thấy hàng năm miếu có tổ chức nhiều lễ cúng khá long trọng những sự kiện khác nhau, trong đó có cúng “cô hồn” các loại. Ngoài ra tại miếu cũng có tổ chức một số ngày hoạt động văn hóa, thí dụ “viết thư pháp” trong những dịp lễ hội… Thế thì cũng đáng để chúng tôi “lết” cái thân già đi thăm miếu xưa tại cái thành phố lớn này cho biết kẻo rồi về sau không có dịp!
Rất may nhờ có liên lạc qua điện thoại trước, khi đến miếu chúng tôi được ông Nguyễn Thanh Bình, một chức sắc trong Ban tế tự miếu, tuổi khoảng 70, hướng dẫn đi xem các bàn thờ, các hiện vật trong miếu và nghe ông trình bày nhiều nét liên quan đến lịch sử hình thành cái miếu đã trên 200 năm tuổi này.

Ông Bình trước kia là vận động viên quốc gia, đã đạt được huy chương trong một cuộc tranh tài quốc tế, sau này làm “Thủ miếu” từ cái ngày miếu còn tiêu điều, không “bề thế” như hiện nay. Cũng nhờ ông Bình rất thân thiện và hoạt bát, chúng tôi đã có trên hai giờ trao đổi, tìm hiểu cụ thể… thật thú vị.
Cuộc nói chuyện khá lan man nhưng nói chung, tôi có thể tóm tắt những gì đã nhìn thấy và đã được nghe từ ông Bình nói:
-Nhìn kiến trúc nhà từ ngoài mặt tiền ta thấy ngay đó là cái “miếu”, không phải “đình”. Tên miếu ghi trên bảng là “Thần Hoàng Bổn Cảnh”. Miếu ở khá sâu trong một hẻm nhỏ nhưng xe Taxi chạy vào gần tới được.

-Miếu được xây dựng vào năm 1807 sau khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802. Trong miếu có hai tấm trướng vải màu đỏ, đan với những sợi kim tuyến bằng vàng thật do vua Gia Long ban tặng (lời của ông Bình)! Một tấm mang tên “Lịch Triều Phong Tặng” (nhưng về hình thức không giống với các tờ sắc phong thần bằng giấy kim tiên màu vàng có đóng dấu “Sắc mạng chi bảo” của các vua về sau), tấm kia mang tên “Nam Hải Tướng Quân” (là danh hiệu của vua Gia Long phong thần cá Voi). Tuy ông Bình cho rằng đó là bằng chứng vua Gia Long đã ra sắc lệnh thành lập miếu và miếu này thờ vua, nhưng tôi nghi ngờ điều này! Có thể có chuyện trong thời gian bôn tẩu ở miền Nam khi đánh với Tây Sơn, vua Gia Long đã mang mối ân tình nào đó với vùng đất này nên sau khi lên ngôi có ban cho vài ân huệ; chứ không thể có chuyện lập miếu thờ vua và ông vua chắc chắn cũng không chịu ngồi trong miếu! Hơn nữa, Thành Hoàng Bổn Cảnh chỉ là danh hiệu “Thần hạ đẳng” của vua sắc phong. Vua là thiên tử, con trời, có quyền lực phong bách thần để các thần làng thay mặt mình cai trị (về tinh thần) dân các địa phương (như vậy các thần cũng chỉ là “bầy tôi” của vua)! Nhân đây cũng nên biết về đẳng cấp của các thần. Thí dụ ông Mạc Cửu ở Hà Tiên hay ông Tống Phước Hiệp ở Vĩnh Long được vua phong “trung đẳng thần”. Còn ông Nguyễn Hữu Cảnh là “thượng đẳng thần”. Ngược lại hai vị cũng là thần Thành Hoàng, Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương (đời Lý) được thờ tại ngôi đình rất lớn Thông Tây Hội vùng Gò Vấp (nổi danh cổ nhất phương Nam) lại không được vua phong đẳng cấp gì!

Hình 4
-Hiện trong miếu có nhiều bàn thờ và bàn hương án mang nhiều màu sắc tín ngưỡng khác nhau. Từ ngoài bước vào, đầu tiên là bàn thờ “Tam Tòa, Tứ Phủ” theo hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu (đa số thấy ở các tỉnh miền Bắc, gần đây được nói tới nhiều). Rồi tới bàn thờ Phật Hoàng Trần Nhân Tông của Thiền Trúc Lâm Việt Nam, bên trái (có lúc nhiều quan chức hay người học thức thường bàn tới Thiền, thậm chí sáng tác cả thơ thiền, nhạc thiền…!). Phía sau có tượng Quan Âm, Phật Di Đà, Phật Di Lạc của đạo Phật Bắc Tông (nhiều chùa Bắc Tông bây giờ rất giàu nhờ cúng dường, cúng sao, giải hạn…!). Bên phải là bàn thờ Cửu Huyền Thất Tổ theo đạo Hiếu của người Việt (tuy ban đầu bắt chước người Hoa nhưng nay đã là tín ngưỡng truyền thống của rất nhiều người Việt). Sau Phật Hoàng là bàn thờ Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt (Lăng Ông ở Gia Định từ bao lâu nay lúc nào cũng có rất đông người đến hương khói . Ông từng là Tổng Trấn Gia Định lúc thành Phiên An là trung tâm hành chính quân sự của Nam Kỳ lục tỉnh). Rồi tới bàn thờ thập loại cô hồn gồm Nam Kỳ Cô Hồn bên trái và Nữ Kỳ Cô Hồn bên phải (cúng cô hồn là tập tục lâu đời của rất đông người Việt). Cuối cùng ông Bình còn chỉ chúng tôi xem các hình tượng Hà Đồ – Lạc Thư (của Dịch học) trên các vật trang trí trong miếu!
-Ngoài ra có những bàn thờ và linh vật hiện vật được bố trí trông “giống ở các đình”! Tôi thấy bàn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền. Hai bên bàn thờ chính thần cũng là Tả Ban, Hữu Ban. Lại có tấm hình con Cọp (ông Hổ) bước xuống núi trông rất oai phong, và tượng con Ngựa khá cao màu nâu đen (nhỏ hơn ngựa thật). Trước bàn thờ thần cũng có hai tượng con Hạc cao đứng trên lưng Rùa thường thấy ở các đình. Lỗ bộ không có tàn lọng nhưng có nhiều loại binh khí trên giá. Ngược lại có điểm quan trọng không giống đình, đó là trên bàn thờ chính không treo một chữ “Thần”, mà là bốn chữ bị che khuất nên khó thấy (dường như là “Thành Hoàng Bổn Cảnh”). Tôi cũng không thấy cái “tráp đựng sắc phong” trên bàn thờ như ở các đình. Thay vào đó lại thấy một cái ghế (dường như mang ý nghĩa thờ cái “ngai”, tượng trưng cho vua)? Trông cũng lạ!

Hình 5
Ông Bình còn vui vẻ giới thiệu với chúng tôi một số nét văn hóa của miếu (dường như có công nhận nào đó của UNESCO):
-Hai câu đối ốp trên hai cột (trong bốn cột long trụ của chính điện) được viết vừa bằng chữ (Hán) vừa được vẽ hình điêu khắc cảnh vật (như cây tùng, con nai…). Điều đặc biệt là cho đến nay chưa ai đoán ra (kể cả các học giả người Việt, người Hoa) để “đọc” được toàn văn hai câu đối vừa chữ vừa hình đó.
-Ngoài một số hoành, phi, bao lam, cuốn thư viết bằng chữ Hán theo kiểu khải thư hay đại triện thường thấy, có nhiều câu chữ theo kiểu tiểu triện do chính tay ông Bình viết. Bước vào miếu khách tham quan hay người đến cúng sẽ trông thấy nhiều chữ viết của ông Bình! Ông ấy còn hãnh diện chỉ cho chúng tôi xem một tập các tờ giấy lớn viết tiếng Hán theo kiểu tiểu triện của ông! (Hỏi riêng thì đươc biết ông không có gốc người Hoa, biết tiếng Hán nhờ tự học).
KHƯƠNG TRỌNG SỬU
h6
h7
h8
h9
