Xem tiếp

" />

Ca dao miệt vườn (tt)

Ngày đăng: 19/04/2017 11:49:55 Sáng/ ý kiến phản hồi (8)

Những học sinh cũ của tôi lúc ấy rất bé bỏng, nay chắc còn có thể nhớ lại thấy Kiên “bắt” mình về nghe ông bà, ba má… ca lại những bài hò hát để cho các em ghi lại. Đó chính là công trình sưu tập mà tôi cho ấn hành tại Vĩnh Long, mang tên Tâm sự Cửu Long (nhà xuất bản Phố Tịnh, 1973), hình bìa do người bạn miệt vườn Lê Triều Điển vẽ trên giấy stencil.” ( ĐTK)

le trieu dien

                                                          Tranh Lê Triều Điển

                           II Sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt

Ca dao miệt vườn ra đời và phát triển không ra ngoài truyền thống chung của văn học dân gian cả nước. Tuy nhiên không vì thế mà nó không mang bản sắc riêng. Những nét riêng của ca dao miệt vườn đều có thể lí hội được phần nào khi chúng ta lưu ý đến hoàn cảnh lịch sử đã góp phần khai sinh ra nó. Lịch sử của vùng đất mang tên là Lục Tỉnh sau này đã góp phần của nó vào việc định hình tính cách của sinh hoạt văn học địa phương cũng như tính cách của con người ở đây.  Cho nên sẽ không là thừa khi phác lại bối cảnh lịch sử hình thành cuộc đất phương nam của tổ quốc, nơi đã ấp ủ và nuôi lớn những câu hò bài ca khoẻ khoắn, ngồn ngộn chất tươi trẻ, thênh thang như thiên nhiên nơi đó.

Vùng đất đồng bằng sông Cửu Long đón tiếp những lưu dân người Việt khá trễ tràng, sau vùng Giản Phố (lưu vực sông Đồng Nai) đến non một thế kỉ. Nếu tính theo sách vở thì mãi đến cuối thế kỉ XVII mới có người Việt xuống lập nghiệp ở miệt vườn. Nhưng lịch sử hình thành vùng đất này thực ra phức tạp hơn thế.

Đầu mối của sự kiện lịch sử thường được mệnh danh là “cuộc nam tiến” là ở Nguyễn Hoàng. Khi vào trấn thủ Thuận Hoá, chủ ý của ông là muốn giữ thân, tránh khỏi mưu hại của Trịnh Kiểm; nhưng dần dần ý đồ xây dựng một cơ nghiệp riêng để đối chọi với họ Trịnh đã khiến các chúa Nguyễn không ngừng phát triển vùng đất địa đầu, hoặc là bằng cách đưa một phần dân chúng đi di thực , hoặc là chiêu mộ lưu dân đưa vào những vùng hẻo lánh ở ngoài địa vực Đại Việt để tăng thêm nguồn lực kinh tế cùng quân sự của Đàng Trong. Giở lại các tài liệu lịch sử, ta biết rằng có ít nhất là bốn đợt di chuyển lớn một số lượng dân chúng đáng kể từ các xứ phía bắc Đàng Trong (tức là vùng đất Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay) vào các vùng đất phía nam chỉ trong vòng hai thế kỉ XVI và XVII.

Năm Mậu Dần 1578, “vua (tức chúa Nguyễn Hoàng) uỷ cho Lương Văn Chánh làm trấn biên quan, chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Ba Đài khẩn hoang ở Đa Diễn (tức vùng sông Đà Rằng). Năm thứ 54 (Tân Hợi 1611), người Chiêm xâm lấn biên cảnh, vua sai chủ sự là Văn Phong dẹp yên, lấy đất ấy làm hai huyện Đông Xuân và Tuy Hoà, đặt phủ Phú Yên thuộc dinh Quảng Nam và dùng ông làm Lưu Thủ” (1). Thế nghĩa là từ đấy biên giới chính thức của Đàng Trong kéo dài xuống phía nam đèo Cù Mông lối 40 cây số nữa, đến Đông Xuân và Tuy Hoà. Đó là đợt di dân lớn đầu tiên còn ghi lại đến nay.

Lần thứ hai là sau khi đại thắng quân Trịnh ở Quảng Bình năm Mậu Tí 1648, bắt sống được ba vạn tướng sĩ Đàng Ngoài, chúa Nguyễn Phúc Lan chia ra cho ở các nơi, từ Thăng Hoa Điện Bàn cho đến Phú Yên, cứ 50 người làm một ấp, cấp cho lương ăn nửa năm (2).

Lần thứ ba, trong cuộc giao tranh lần thứ năm giữa họ Trịnh và họ Nguyễn (Ất Mùi 1655), quân Nam chiếm sâu đến mé sông Cả ở Nghệ Tĩnh, cưỡng bách nhiều đoàn dân chúng tại đây vào khẩn hoang trong nam. Một số được đưa vào rải từ Thăng Hoa đến Tuy Hoà, một số khác được đưa sâu vào tận đất Chiêm và Giản Phố Trại (thuộc Thuỷ Chân Lạp). Nguyên do là chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên) có gả một con gái (quận chúa Ngọc Vạn) cho vua Chân Lạp Chey Chetta II; vì vậy năm Quí Hợi 1623, chúa sai sứ sang Chân Lạp xin phép vua Chey Chetta II cho phép người Việt vào lập nghiệp ở vùng đất Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay) (3). Đây là những người Việt đầu tiên đặt chân đến vùng đất Lục Tỉnh sau này vậy. Trong số những người dân bị cưỡng bách đi Nam đợt này có cả tổ tiên Nguyễn Huệ bị đưa vào thực dân ở ấp Tây Sơn Nhất, huyện Qui Ninh (thuộc Qui Nhơn) (4).

Lần thứ tư, vào năm Mậu Dần 1698, cuộc chiến Nam Bắc kết thúc thì cũng vừa lúc nước Chiêm bị chúa Nguyễn thôn tính trọn, mở rộng cương giới đến đồng bằng sông Đồng Nai. Quốc Chúa (Nguyễn Phúc Chu) sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Cao Miên, đem xứ Đồng Nai làm dinh Trấn Biên, lập làng, lập ấp, định thuế khoá. Trong dịp này, ông đã chiêu tập thêm những lưu dân từ châu Bố Chính trở vào Nam, lập ra được hai huyện là Phước Long (Biên Hoà ngày nay) và Tân Bình (địa phận Gia Định và Sài Gòn bây giờ). Nhờ thành tích này, ông Chưởng Cảnh được phong Lễ Tài Hầu. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có ghi lại cụ thể về lần mở đất di dân này như sau: “Mùa xuân năm Mậu Dần, đời vua Hiển Tông, Hiến Minh Hoàng Đế sai Thống Suất Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh sang kinh lược… lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định Phủ… Đất đai mở rộng ngàn dặm và dân số hơn bốn vạn hộ, chiêu mộ những lưu dân từ Bố Chính châu trở vô nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn; chia cắt địa phận, mỗi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn định thuế đinh thuế điền và lập bộ tịch đinh điền” (5). Lê Quí Đôn cũng viết về sự kiện này như sau: “Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa biển lớn nhỏ như cửa Cần Giờ, cửa Sài Lấp đi vô chỉ toàn là rừng rậm hoang vu, mỗi đám rừng rộng cỡ đến hơn nghìn dặm… Nhà Nguyễn chiêu mộ những người có vật lực từ các xứ Quảng Nam, phủ Điện Bàn, phủ Quảng Nghĩa và phủ Qui Nhơn thiên cư vào đó…” (6).

Qua năm sau, Kỉ Mão 1699, vua Chân Lạp phản trắc, chúa Nguyễn cử Lễ Tài Hầu làm thống soái đi chinh phạt. Thắng trận trở về, cánh quân di chuyển theo đường Châu Đốc, An Giang về đến Vĩnh Kim (Định Tường) thì quan thống soái bị bệnh nặng, mất tại đây (tháng 5 năm Canh Thìn 1700).Trên lộ trình rút quân từ Hậu Giang về Tiền Giang, nhiều thương bệnh binh và cả quân sĩ đã đào ngũ hoặc được giải ngũ, ở lại lập nghiệp dọc theo vùng đất miệt vườn ngày nay (7).

Qua những làn sóng di dân kể trên, ba lần đầu chủ yếu là đưa dân vào khai khẩn vùng đất từ Quảng Nam vào đến Bình Định bấy giờ. Chỉ lần thứ tư mới đưa dân vào khai khẩn miệt Biên Hoà, Gia Định, đồng thời cấy một đợt di dân đầu tiên cho vùng đất sau này sẽ gọi là miệt vườn. Mà việc này chỉ mới xảy ra ở vào những năm cuối thế kỉ XVII. Như vậy có phải chăng là đến lúc đó mới có người Việt sinh sống ở vùng đất mà sau này gọi là Lục Tỉnh?

Sự thật xem ra không phải thế. Qua nhiều tài liệu rải rác, có thể khẳng định là trước khi các chúa Nguyễn chính thức thiết lập chính quyền ở những vùng đất mới thì ở đó đã có sẵn dân Việt di cư đến trước.  Chẳng hạn như trường hợp vùng đất Biên Hoà, mãi đến năm 1698 mới thiết lập chính quyền đại phương ở đó nhưng người mình đã có mặt sẵn hàng thế kỉ trước rồi. Bằng chứng là từ năm 1658, khi vua Chân Lạp xâm phạm biên cảnh, phó tướng Trấn Biên Dinh (lúc ấy là Phú Yên) được lệnh đem quân trừng phạt, bắt được vua Chân Lạp đem về Quảng Bình, sau tha cho về nhưng bắt phải cam kết “không được xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cương” (8). Một câu khác gần đó còn xác nhận rõ hơn: “Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lưu dân của nước ta đến ở chung lộn với người Miên để khai khẩn ruộng đất” (8).

Một trường hợp khác: trong đợt rút quân từ Nam Vang về, đạo quân đông đảo của Nguyễn Hữu Cảnh đã giảm sút rất đáng kể, đó là điều khó hiểu khi chính họ vừa thắng trận trở về. Hẳn là sự kiện đào ngũ hay giải ngũ như vừa nhắc đến ở trên chỉ là cái cớ để che giấu mưu đồ của chính quyền Đàng Trong là cấy người ở lại để kinh dinh đất mới. Hẳn là những binh sĩ gốc hai huyện đó đã thấy tận mắt cảnh đất và cuộc sống của những lưu dân đang ở sẵn đấy từ trước nên đã rời đội ngũ mà ở lại sống chen lẫn với họ. Đó là diễn tiến ôn hoà nhưng hữu hiệu của quá trình ‘nam tiến’ của người Việt vậy. Quá trình đó đã định hình từ những thời kì xa về trước, nhưng đến thời các chúa Nguyễn thì rõ nét: ban đầu là một số lưu dân có thể bị phát vãng đến để an trí hoặc là để trốn sưu lậu thuế; rồi đến những đợt di dân có chủ ý của nhà nước, hoặc là mở chiến tranh bình định biên giới để xác lập tình thế lấn chiếm đất đai; sau cùng mới tiến lên lập dinh định phủ khi đã có đông đảo dân chúng lập nghiệp ở vùng đất mới. Đến khi vùng đất có tên là Tầm Phong Long được sáp nhập vào lãnh địa Đại Việt để trở thành Tân Châu Đạo, Châu Đốc Đạo và Đông Khẩu Đạo (1757), cuộc nam tiến đã kể như hoàn tất, người Việt chính thức làm chủ nhân ông vùng đất nơi đã chôn vùi nền văn minh Óc Eo rực rỡ xa xưa. Miệt Vườn đã là đất của người Việt.

Biết được quá trình di dân lập nghiệp một cách khái quát như trên thật ra cũng chưa cho ta hình dung cụ thể dáng vẻ riêng của cộng đồng người Việt thuở ban đầu ở vùng đất mới. Nhìn kĩ hơn vào thành phần những người Việt tiền phong này sẽ cho ta một ấn tượng rõ nét hơn về con người và sản phẩm văn học của họ tạo sinh trong khung cảnh sống này. Chính những người dân cụ thể ấy, khi rời vùng đất Bố Chính nghèo khó để xuôi nam, đã không chỉ mang theo trần trụi một thân phận xiêu lạc để tìm một cuộc sống no đủ mà còn mang theo cả vốn liếng văn hoá của truyền thống để tạo dựng một cơ đồ cho con cháu. Nhưng đó là chuyện về sau. Còn chính bản thân họ, những người Việt tiền phong trên những vùng “kinh tế mới” ấy là những ai?

Trước hết, đó là những người tử tội bị lưu đày phát vãng. Luật Hồng Đức đã định lệ lưu viễn châu (thường là những miền đất ma thiêng nước độc hoặc là vùng đất biên ải). Vào những buổi đầu, một vùng đất mới tiếp thu thường là nơi phát vãng những phần tử bị xem là nguy hiểm cho xã hội; cho nên sau khi biên giới phía nam đã mở xuống tận phủ Hoài Nhơn (Bình Định) thì vua Thánh Tông nhà Lê định lệ rằng những kẻ phạt tội lưu cận châu thì phải sung về quận ở Thăng Hoa (Quảng Nam), lưu ngoại châu thì sung về quận Tư Nghĩa (Quảng Ngãi), lưu viễn châu thì sung vệ quân ở Hoài Nhơn (9).

Cuộc chiến tương tàn kéo dài hàng hai trăm năm, trong đó đến bảy trận đánh lớn trong vòng 45 năm trời (1627-1672) đã làm điêu linh không biết bao nhiêu gia đình vì chết chóc, tàn phá và đói khổ. Nhưng có lẽ lớp người khốn khó nhất vì chiến tranh phải kể đến trước hết là binh lính. Cho nên hiện tượng đào ngũ không phải là chuyện khó hiểu, và nơi trú ẩn cho những người trốn lánh không gì hơn là những vùng đất xa xôi hoang vắng ở tận cuối trời Nam. Một người Pháp đã ghi lại một chi tiết quý  giá về hiện tượng loạn lạc của xã hội Đại Việt trong thời kì chiến tranh: Ở trang nhật kí ngày 14 tháng giêng năm 1750, sau khi kể lại rằng ông đã gặp dọc đường hơn hai trăm người nông dân bị gông cổ dẫn về Huế sung quân, đã nhận xét về quân đội chúa Nguyễn ở Đàng Trong như sau: “Nhà vua hiện nay chỉ có binh lính bằng cách sử dụng bạo lực. Nhiều binh sĩ đào ngũ và trốn vào Đồng Nai vì họ không được trả lương và vì cơ cực quá. Nạn đào ngũ đã xảy ra như cơm bữa nên chẳng còn biết có thể trấn áp bằng biện pháp nào, cho nên hễ có tóm được một đạo binh thì cũng chỉ phạt y một vài đòn roi tượng trưng” (10). Đây là thành phần thứ hai trong cộng đồng người Việt đi tiên phong ở vùng đất mới.

Một thành phần khác trong số những người Việt đến ở vùng đất miền nam chính là binh lính và gia đình họ. Muộn nhất thì cũng là để trấn biên ải và bảo vệ dân đinh; sớm nữa thì như trường hợp đạo quân của Nguyễn Hữu Cảnh vậy, trên đường rút về một số đã bỏ ngũ hoặc giải ngũ để ở lại khai khẩn cuộc đất mà họ vừa đi ngang qua. Hẳn là họ phải được nhà chúa tán trợ hành động này nếu không muốn nói là chính quyền chủ trương thế. Cứ lấy trường hợp vùng đất Cái Sao (Hậu Giang) nguyên trước là vùng đất hoang vu không người, năm 1700, đạo quân quan chưởng cơ trở về qua đó dừng chân lại một thời gian ngắn chừng một tháng thôi, sau đó không lâu trở thành một vùng đất thuộc do người Việt khai thác.

Cũng không thể quên thành phần khác nữa trong đám người vào sinh sống tại những vùng đất mới: đó là một số nhỏ những nhà có của ở miền Trung muốn tìm nơi để phát triển mở mang sản nghiệp, đã phiêu lưu về vùng đất phía nam. “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ cửa biển trở vào toàn là rừng rậm trải hơn nghìn dặm. Chúa Nguyễn … chiêu mộ những dân có vật lực ở các phủ Điện Bàn, Quảng Nghĩa, Qui Nhơn (xứ Quảng Nam) di cư đến, chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm, khai phá thành đất bằng, đất đai màu mỡ, cho họ tự tiện chiếm lấy lập vườn, trồng cau, làm nhà” (6).

Trong số những thành phần cư dân vừa kể, có phần chắc là số lưu dân chiếm phần không nhỏ. Hoàn cảnh xã hội đàng trong vào những năm chiến tranh căng thẳng không được sáng sủa cho lắm: thuế khoá cao, bắt lính liên miên, quan lại ức hiếp nhũng nhiễu dân lành… “Như việc thuế khoá, trấn Thuận Hoá đã có pháp lệnh phiền phức, các nhân viên đốc thuế lại đông, những kẻ cùng đinh nghèo khó thường cay cực vì sưu cao thuế nặng… (6) Tại hai trấn Thuận Hoá và Quảng Nam, nạn quan lại tham nhũng càng ngày càng quá đáng. Sự nhũng nhiễu của đám quan lại lớn bé, của bọn phu hồ đã khiến cho những kẻ nghèo khó phải buộc li hương xiêu tán vào chốn phương nam hoang vu. Trong một tờ trình lên chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1750, Nguyễn Cư Trinh có mô tả cảnh sống của dân Quảng Nghĩa nhưng cũng có thể xem là khái quát cảh sống của dân chúng Đàng Trong thời tao loạn: “Dân đến Quảng Nghĩa chịu thống thuộc nhiều nơi, đã chịu lệnh của nha trường điền tô, lại chịu lệnh của các nha biệt tải, biệt nạp, lại còn chịu lệnh của các nha sai viên vi tử, nha sai viên đầu nguồn, chịu lệnh ban phủ rồi lại chịu lệnh nha môn, chịu lệnh sai nhân rồi lại còn chịu lệnh bọn thợ săn ngang dọc, há chẳng phải cảnh mười con trâu mà đến chín kẻ chăn? Nghèo khó, thất nghiệp, thật là đáng tội nghiệp” (6). Nguyễn Cư Trinh có nói đến số lượng đông đảo những hạng dân lậu và phân biệt làm hai loại: một loại là dân vì trốn thuế mà phải đi lang thang, một loại khác vì đói khổ mà phải xiêu tán. Trong cảnh huống ấy, tội phạm hẳn là nhiều, dân nghèo khó đành phải bỏ cửa nhà làng xóm mà lưu tán khắp nơi.

Tóm lại, trong đám người di dân vào vùng đất mới phương nam trong khoảng thế kỉ XVII và XVIII, có nhiều thành phần phức tạp: Những tù nhân bị lưu đày, những người trốn lánh binh dịch hoặc đào ngũ, những nông dân cùng khổ không sống nổi nơi xóm làng mà phải phiêu linh; cũng có một số ít nhà có của hưởng ứng lời kêu gọi của nhà chúa mà đi mở đất làm giàu, nhưng chủ yếu vẫn là dân nghèo khó phải thất sở li hương kiếm ăn – mà sách cũ gọi là “lưu dân”. Lớp người này đã tìm thấy ở vùng đất mới nơi biên viễn là nơi dung thân tương đối lí tưởng.

*

Trên đây là phác họa đôi nét về hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của vùng đất mới phía nam trong những buổi đầu, qua đó nổi bật lên hiện tượng tụ tập của những người lưu dân tiền phong vào khai phá vùng đất trẻ mà sau này sẽ gắn chặt với đất mà họ đã chọn làm quê hương. Thời thế – hay là hoàn cảnh chính trị xã hội vào những thế kỉ loạn lạc điêu linh của hai miền tổ quốc (thế kỉ XVI-XVIII)- với những cuộc đổi thay triều đại liên miên, kéo theo đó là cuộc chiến tranh dai dẳng giữa các tập đoàn vua chúa đương thời, đã là cơ duyên cho việc mở mang bờ cõi đất nước về phương nam. Thật vậy, trong khi xã hội văn vật Đàng Ngoài đang trên triền dốc khủng hoảng thì tận địa đầu phương nam, cương giới cứ mở dần theo chiến lược tàm thực, tạo tiền đề cho một cơ duyên lịch sử đặc biệt khác về sau: làm trẻ lại khuôn mặt xã hội bằng một lực lượng quần chúng mới sinh hoạt trong khung cảnh văn hoá tương đối cởi mở hơn so với đất Thăng Long thời buổi ấy đang trở nên bệnh hoạn già nua. Sự ra đời của một vùng đất mới đã kéo theo nhiều hệ quả khác về mặt giá trị ăn hoá tinh thần. Những yếu tố của khung cảnh thiên nhiên và hoàn cảnh lịch sử xã hội sẽ tác động mạnh mẽ và sâu sắc với tiến trình văn hoá của người dân trên vùng đất mới. Qua ba trăm năm, văn hoá của vùng đất trẻ trung này đã định hình rõ nét, thể hiện ra ngoài trong cách ăn lối mặc, lề lối qui hoạch nhà cửa, tổ chức xóm làng… thể hiện ra ở quan niệm sống hào sảng bộc trực phóng khoáng, ở quan niệm về thẩm mĩ hướng về sự giản dị, chân tình. Văn hoá của vùng đất trẻ này còn thể hiện qua các sáng tác văn học nghệ thuật phản ánh trung thực con người và cuộc sống ở vùng quê mới.

Lịch sử khá trẻ trung của vùng đất mới phương nam có thể là một thiệt thòi, vì ba trăm năm có lẽ chưa đủ để mọi giá trị văn hoá của phương nam được trau chuốt thành qui củ ổn định. Thật vậy, ngôn ngữ văn học miệt vườn chẳng hạn chưa được tinh tế nhã luyện như ở Đàng Ngoài. Cũng là bày tỏ tình yêu, văn học dân gian ở vùng đất văn vật nghìn xưa thể hiện như thế này:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào

Hình ảnh kín đáo bóng bẩy đã phong kín vẻ ý nhị cuả lối ướm hỏi, đến độ như là những con người đang yêu nhau kia đang nói chuyện trời mây trăng gió ở đâu đó. Phong cách đài các của ngôn từ trong ca dao đàng ngoài đã đến mức ‘cổ điển’, cho nên khi nói “áo anh sứt chỉ đường tà”, Hữu Loan không có ý nói về một chiếc áo sứt chỉ đường tà nào cụ thể mà chỉ gợi lại kiểu tỏ tình ý nhị của chàng trai trong ca dao đàng ngoài: “Hôm qua tát nước đầu đình…” Cũng vì ngôn từ ca dao miền ngoài đã trở nên ‘cổ điển’ nên có người cho là tình cảm của con người ở đàng ngoài như bị khuôn khổ, qui tắc của những chuẩn mức nặng tính cách qui phạm, cho nên ca dao miền bắc tinh diệu thật đấy, nhưng không khỏi khuôn sáo, tiểu xảo. E rằng nhận xét như vậy có phần quá đáng và thiên lệch, vì đã quá chuộng vẻ tự nhiên tươi sống của kiểu dáng biểu hiện cảm xúc của người miền trong. Hãy xem họ thể hiện tâm tình theo một cung cách khác xa:

Anh thương em

Thương lún thương lụn

Thương lột da óc

Thương tróc da đầu

Ngủ quên thì nhớ

Thức dậy thì thương…

Thương sao thương quá bất nhơn

Bữa nay gặp mặt thương hơn bữa nào!

Ngôn từ thật là sượng, nhưng khoẻ mạnh, ngồn ngộn chất tươi nguyên. Tính cách đó -nếu có thể gọi là tính cách- là tính cách trẻ trung của vùng đất văn hoá mới còn non trẻ quá nếu so với tuổi hơn bốn nghìn của vùng đất văn vật Thăng Long. Chính đặc tính này cắt nghĩa tại sao nhiều câu ca dao miệt vườn dài thậm thượt, vần nhịp lỏng lẻo vô cùng. Ca dao ở miền này chỉ mới ra đời chưa quá ba trăm năm, nghĩa là chưa đi quá tuổi thơ ấu nếu so với tuổi tác văn học những miền ngoài. Thể thơ ổn định của ca dao nước ta là thể lục bát mềm mại đã trở thành cái vỏ nghệ thuật của một tỉ lệ lớn tuyệt đối các câu ca dao miền ngoài. Tỉ lệ đó không còn nữa ở ca dao miệt vườn. Khuynh hướng nới lỏng nhịp điệu cân phương gọn gàng của câu thơ lục bát tăng lên dần nếu ta so sánh giữa ca dao miệt hai huyện và ca dao miệt vườn. Bảng đối chiếu dưới đây lập thành từ cứ liệu thống kê trong sách Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc và trong số hơn 800 câu ca dao miệt vườn mà chúng tôi thu thập tại miệt vườn:

  Tục ngữ phong dao ca dao miệt vườn (808 bài)
Thể thơ lục bát 703 (87%) 338 (39%)
Lục bát biến thể 60 (7.5%) 508 (54%)
Thể thơ khác 45  (5.5%) 18 (0.2%)

 

Qua những phân tích trên đây, chúng ta hiểu thêm được rằng ca dao miệt vườn là một gia sản mới mẻ, chưa có đủ điều kiện thời gian để tự trui luyện nó trở nên tinh nhã. Sự khác biệt có ý nghĩa về tỉ lệ các câu lục bát hoàn chỉnh và các câu biến thể trong bảng trên đã nói khá rõ sự phóng túng về vần, nhịp của câu ca dao miệt vườn. Nhìn từ trạng thái tĩnh thì có thể bảo rằng đặc tính này là nét đặc thù của ca dao miệt vườn, mà nhìn từ chiều kích thời gian thì có thể nói được rằng ca dao miệt vườn là sản phẩm của lịch sử ngắn ngủi của miệt vườn để lại. Giá mà lịch sử kéo dài thêm cho miệt vườn có nhiều thời gian tô chuốt các câu ca bài hò! Nói như thế tức là đã thừa nhận sự kiện là ca dao miệt vườn hình thành và phát triển tự nhiên như ca dao các vùng đất khác mà thôi: Những dáng riêng của ca dao miền này được định hình như hôm nay thật ra cũng có thể tìm thấy ở ca dao bất cứ địa phương nào. Nói một cách khác, ca dao miệt vườn đã không đủ thời gian cần thiết để tự hoàn chỉnh nghệ thuật cho nó chứ không phải tự thân ca dao miệt vườn muốn dừng lại ở trạng thái lỏng lẻo vần điệu như hiện nay.

Ở trên đã nói nhiều đến thành phần cư dân buổi đầu của vùng đất mới phương nam. Đây là một cộng dồng kém may mắn nhiều mặt. Cuộc sống cơ cực trong một xã hội nghèo đói loạn lạc đã khiến cho bao nhiêu nỗ lực của con người chỉ còn thu nhỏ lại và chuyện miếng cơm manh áo. Những người đi khai hoang không phải là đã tìm thấy ngay thiên đường ở vùng đất trắng xa lạ. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt đã chan lên số phận những lớp lưu dân tiền phong. Vốn liếng văn hoá tinh thần đem theo từ vùng đất cũ chỉ là chút trí nhớ mà lắm khi cũng phải được đánh giá lại từ kinh nghiệm thực tế khắc nghiệt. Cho nên không lạ gì miệt vườn đã hình thành những khuôn thước mới khoáng đạt hơn cho những giá trị văn hoá dân tộc ở vùng quê mới. Tư tưởng nho gia chẳng hạn có bớt giáo điều hơn tại miệt vườn nếu so sánh với đất thần Kinh hay Thăng Long văn vật. Nhưng đó lại là chuyện của những thế hệ con cháu về sau. Riêng những thế hệ đầu tiên đến miệt vườn, khó có thể nói rằng quê hương mới lại có ngay những tiện nghi văn hoá cho họ: không có thầy đồ dạy học, mà cũng không chắc có được sách vở chữ nghĩa trong mớ hành trang nghèo nàn họ mang đi từ khi rời bỏ xóm làng quê cha. Ta không quên rằng trong xã hội cũ, các thầy đồ đã đóng vai trò sứ giả văn hoá tại địa phương: Chính họ là những quan viên quan họ – hay ít ra cũng là ‘thầy nhắc tuồng’ cho các ‘liền anh liền chị’ – trong các hội mùa ở Bắc Ninh hay Nghệ An; chính họ là tác giả những áng văn lưu hành trong dân gian; cũng chính họ là người rao giảng chữ nghĩa thánh hiền trong các pho kinh-sử-tử-tập cho nhiêu thế hệ thư sinh. Thế mà họ không phải là những con người dễ tìm thấy ở những nơi hẻo lánh sơn cùng thuỷ tận như miệt vườn những buổi đầu. Lưu dân là những người đã phải ứng tác lấy các câu ca bài hát cho chính họ để thoả đáp nhu cầu tinh thần mà chính họ thấy cần được bù đắp trong suốt những chuỗi ngày dài hẩm hút nơi cuối trời lận đận. Trong hoàn cảnh như thế, không có gì là đáng ngạc nhiên khi ca dao miệt vườn còn lưu lại đến nay có nhiều câu mà một nhà sinh trưởng ở miền nam- ông Sơn Nam- đã phải bảo là ‘dốt hay nói chữ’ (7) vì đã dùng sai nghĩa một từ Việt Hán, trưng dẫn sai một điển xưa tích cũ.

Tìm hiểu ca dao miệt vườn, có một điểm rất dễ nhận thấy là câu ca dao thường không chau chuốt, không thuần nhã so với ca dao những vùng khác có truyền thống văn học lâu đời. Các câu hát ra đời ở miệt vườn thường nghèo hình tượng, thô sơ mộc mạc như chưa đi qua mức tự nhiên của hệ thống ngôn ngữ công cụ. Thuật ngữ văn học Trung Hoa có phú, tỉhứng để chỉ ba thể cách sáng tác ca dao; tính hình tượng tăng dần từ hứng sang tỉ và đạt đến mức tinh tế nhất là phú, trong đó cảnh và tình quan hệ biến chứng sinh thành một cách ý nhị, kín đáo, sâu sắc. Các câu hát theo thể hứng trong ca dao miệt vườn chiếm tỉ lệ khá cao. Nếu ca dao là những câu hát sơ khai thì ca dao miệt vườn là những câu ca đang còn ở mức sơ nguyên nhất, chưa trải qua nhiều công phu lọc lõi của nhiều thế hệ. Nếu ca dao là những đứa trẻ ra ngõ lần đầu thì ca dao miệt vườn là những đứa trẻ rụt rè bỡ ngỡ vô cùng.

Những non yếu về nghệ thuật sáng tác đề cập đến ở đây – nói cho cùng- chỉ là hệ quả tất yếu của hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của vùng đất mới phương nam này.

Ra đời trong bối cảnh sinh hoạt không mấy thuận lợi về sinh hoạt văn học nghệ thuật, ca dao miệt vườn càng tỏ ra có giá trị và đã tự xác lập vị thế của nó trong hoàn cảnh sinh hoạt của con người nơi đây. Nhu cầu giải trí, tiêu khiển là nhu cầu tự nhiên và cần thiết; cho nên những thế hệ lưu dân đến ở vùng đất mới đã làm sống dậy tiềm thức tập thể dân tộc khi chế tác những câu hát mới, hoặc nếu may mắn còn nhớ lại mơ hồ những câu hát cũ ở quê nhà mà họ được nghe từ lúc còn nằm trong nôi. Tất cả chỉ là để thoả nhu cầu tiêu khiển sau những buổi làm việc mệt nhọc vì miếng cơm manh áo nơi vùng quê mới.

Lại nữa, nhu cầu diễn đạt tình cảm lắm khi cũng thôi thúc đứa con xa xứ phải ứng tác, phải tâm sự, phải trần tình, cho vơi nỗi nhớ quê nhà mà họ biết là còn giữ rất nhiều kỉ niệm một thời họ không bao giờ có thể quên. Diễn đạt lòng mình, dù chỉ đê cho mình thôi, cũng để thoả một nhu cầu rất lớn của sáng tác văn học nghệ thuật. Bởi vì cội nguồn của văn nghệ chính là ở tình cảm của chúng ta đó thôi; tình cảm thì chẳng biết chia giàu nghèo sang hèn. Những con người lưu xứ buổi đầu bị đẩy vào thế cùng, đành phải vong gia thất sở phiêu bạt đến xứ xa như thế, thì nhu cầu văn nghệ là nhu cầu tự nhiên họ phải tự vượt thắng những trở lực về kiến thức và kĩ năng để vươn lên làm chủ đời sống văn học của chính mình tại quê mới. Cứ thế,theo với ngày tháng cùng sự phát triển của cộng đồng quần cư nơi đất mới, dần dà những ngày hội hè, những buổi hò hát đầy kịch tính cũng được tổ chức, đưa sinh hoạt văn học nghệ thuật tiến thêm những bước mới về chất lượng.

Cuối cùng, cũng không nên quên là cái nền của mọi sinh hoạt văn nghệ miệt vườn là khung cảnh ruộng đồng sông nước. Ở đây, sông nước mênh mông lại là một dữ kiện của hoàn cảnh khá đặc thù để làm đà cho sự phát triển mạnh những câu hò lê thê như những con sông không chỗ tới ở miệt vườn. Không ở đâu trên quê hương chúng ta mà có hân hạnh làm chủ những câu hò dịu ngọt như thế.

Những nỗ lực như thế chính là những sinh hoạt văn hoá đúng nghĩa nhất, vì nó là những công phu đưa cuộc sống hàng ngày của con người vượt lên tình trạng tươi sống của tự nhiên để thành những sản phẩm chín mang đầy ắp dấu tích của tim óc chúng ta.

         Đoàn Xuân Kiên

(Tâm sự Cửu Long, Phố Tịnh, 1972)

 

  1. Đại Nam Nhất Thống Chí, tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà
  2. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, q. III
  3. Xem: Tân Việt Điểu, “Theo dấu hai bà…” Văn Hoá Nguyệt San, số 43, tr.867 trở đi.
  4. Hoa Bằng, Quang Trung, anh hùng dân tộc. Nxb Bốn Phương, Sài Gòn, tr.21-22.
  5. Gia Định Thành Thống Chí ,III. tr. 9a
  6. Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, V, tr. 213a-b, tr. 102a
  7. Sơn Nam, Nói về Miền Nam. Nxb. Lá Bối, Sài gòn, 1965, tr42, tr.67.
  8. Gia Định thành thông chí , q.III., tr 4a.
  9. Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine- Journal d’un voyage à la Cochinchine (29.8.1749 – 11.2.1750). R.E.O., No 4, tr. 489

 

Có 8 bình luận về Ca dao miệt vườn (tt)

  1. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Bài viết của Thầy ngồn ngộn kiến thức về nhiều mặt.

    Em vẫn nghĩ Thầy sẽ cho chúng em đọc những câu, những bài ca dao miệt vườn mà Thầy đã sưu tập đuoc từ các học sinh hồi năm nẳm.

    • Đoàn Xuân Kiên nói:

      Hạnh ơi,

      808 câu ca dao miệt vườn sưu tập hồi 1972-73 nay có thể tìm thấy trong khá nhiều sách ra đời sau 1975; nhất là, tôi nghe nói, có những công trình điền dã do sinh viên và thầy giáo các đại học miền tây nam bộ trong thời gian 1980-1990. Những câu ca dao của thầy trò chúng tôi hồi nẳm nay chỉ nên xem là kỉ niệm. Còn nếu muốn giữ kỉ niệm thì cũng không sao! Sẽ nhờ Lương Minh lo giùm chuyện làm layout và in ấn. (Chi phí thì… tác giả lo giùm). Với điều kiện là phải bán hết 500 cuốn để giúp quỹ học bổng học sinh nghèo nha!

      • Nguyễn Thị Hạnh nói:

        Chắc chắn là em sẽ ủng hộ 1 quyển, thưa Thầy, còn thì … ?

        ( Em có biết Lê Triều Điển và chị Quý, tên của anh chi trên Fb là Lê triều Hồng Lĩnh )

  2. Hoành Châu nói:

    Đọc và cảm nhận ca dao miệt vườn của Thày Đòan Xuân Kiên:
    ~ Rất tiếc   là ca dao miệt vườn chưa có đủ lượng thời gian  để tự,tập hợp , hoàn chỉnh ,  phát triễn rộng khắp  trước khi nó  còn lãng đãng  ,,, như hiện nay : Buồn
    ~ Khung cảnh ruộng đồng sông nước dân dã cũng là cái nền  của mọi sinh hoạt  văn nghệ miệt vườn ,,,ta hãy nghe câu ca dao cũ ngày nào  ( từ ” ngày nào đó “,,,,, sơ sơ cũng ngót   hơn 4o, 50  năm ,  Hihi !!
    Hỡi cô tát nướt nước bên đàng
    Sao cô múc ánh trăng vàng  đổ  đi ,,,”
    Hình ảnh này từ lâu đã trở thành  quý hiếm  ,,, đành  chìm vào quên lãng  khi mà mọi vật đổi sao dời , lấp sông , cạn rạch ,,, : Buồn   .
    Mong đọc tiếp bài viết mới của Thầy . Chúc Thầy vui .
    Hoành Châu (Gia đình C  )

  3. VÕ THỊ LÀI nói:

    Kính thưa thầy,  bài  ” Ca Dao Miệt Vườn ” của thầy rất hay nó sâu sắc và phong phú mọi khía cạnh, em vô cùng cám ơn thầy đã cho chúng em thêm kiến thức về lỉnh vực Ca Dao .Chúc thầy vui khỏe .

  4. My Nguyen nói:

    Thầy kính mến! Bài viết của Thầy thật công phu, cung cấp cho chúng em thật nhiều kiến thức. Đặc biệt là quá trình di dân lập nghiệp của cộng đồng người Việt qua các thời kỳ. Từ đó hình thành kho tàng ca dao miệt vườn rất phong phú. Tuy chưa được trau chuốt và thuần nhã như ca dao các vùng miền khác nhưng nó đã mang những đặc thù riêng, lý thú, không thể lẫn vào đâu được.

    Dù bây giờ, như Thầy đã cho biết, có nhiều sách nói về ca dao đã ra đời sau năm 1975…nhưng em vẫn muốn được đọc 808 câu ca dao miệt vườn mà Thầy đã sưu tầm năm 1972-1973, Thầy ạ!

    Em xin cảm ơn Thầy về một bài viết rất ý nghĩa. Kính chúc Thầy luôn an vui, hạnh phúc…

  5. Đoàn Xuân Kiên nói:

    Cảm tạ các chị và các bạn đã đón nhận bài viết nhỏ mà tôi viết hơn 40 năm trước, với cả tấm lòng dành cho miệt vườn. Tôi ghi nhận ý kiến của bạn đọc và cũng là để tạ tình tri ngộ với nhà văn quá cố Sơn Nam cũng từng hỗ trợ cho công trình nghiên cứu này. Tôi sẽ sắp xếp bản thảo cũ để sớm cho ra mắt bạn đọc ở dạng sách. Tôi tin rằng thời gian đã gạn đục khơi trong; chút kỉ niệm nho nhỏ nhưng so ra cũng không tệ, và có thể cung ứng tài liệu cùng nguồn hứng tìm tòi thêm cho thế hệ con cháu của các bạn học trò cũ của tôi.

    • Luong Minh nói:

      Cho phép em được hoan hô thầy. Các bạn tới đây cũng có quà kỷ niệm. Học trò và thế hệ sau sẽ biết thêm văn hóa vùng miền

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác