Xem tiếp

" />

Tiếng ve sầu muôn thuở (kỳ 2)

Ngày đăng: 15/08/2013 07:24:04 Sáng/ ý kiến phản hồi (3)

 Con ve, hay ve sầu, là đề tài phổ biến trong văn học Nhật Bản ngay từ thời Heian (794-1192).

Truyện Genji [19] vào thế kỷ XI thường được xem là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nữ sĩ Murasaki Shikibu. Trong chương thứ ba, với đầu đề là Utsusemi 空蝉, “không-thiền”, tức là ‘Vỏ ve sầu’, đồng thời cũng là tên người phụ nữ chính trong chương này. Genji, ông hoàng mười-bảy-tuổi đẹp trai và cũng là tay ăn chơi nổi tiếng, muốn tán tỉnh nàng Utsusemi nhưng bị từ chối vì nàng đã có chồng. Nàng trốn chạy Genji, bỏ lại chiếc áo choàng trong phòng. Genji đành chịu, làm bài thơ tanka,[20] ví chiếc áo choàng của nàng Utsusemi  với ‘vỏ ve sầu’ !

Mặc dầu ve sầu xuất hiện rất sớm trong văn học Nhật Bản và Truyện Genji rất nổi tiếng, phải đợi đến Bashō, tức hơn sáu thế kỷ sau, tiếng ve mới gợi cho ta rõ ràng là tiếng gọi của mùa Hè với tình cảm nhớ mong, mong nhớ. Bashō đã mang hình tượng của con ve sầu sít lại với chúng ta và trong haiku trở thành một kigo (quí ngữ)  — tượng trưng cho mùa Hè oi ả.

Hồi nhỏ chúng tôi thích đi bắt ‘vè ve’.[21] Bôi mủ mít vào đầu cây sào để trít những con ve đậu cao. Buổi trưa Hè, cứ mỗi lần nghe tiếng ve kêu vang, chúng tôi cảm thấy thôi thúc, giục giã khôn lường. Khi dậy sớm, lúc trời còn tối mịt mờ, chúng tôi đến gốc cây mít, cây đào,[22] cây nhỡn,[23] cây Ngải-Tướng-quân,[24] v.v. dùng đèn sáp để đi xem ‘vè ve non’ mới bò dưới đất lên cây thay vỏ — để lộ đôi cánh non màu xanh lục, óng ả đẹp vô cùng. Nào đâu có biết thời gian con ve sống trên cây chỉ nội trong bảy ngày, trong khi ở dưới đất phải đi qua một chu kỳ là bảy năm trường !

Khi đi qua chùa Ryūshakuji (立石寺Lập-Thạch-Tự) thuộc huyện Yamagata ngày nay, Bashō đã viết:

Shizukasa ya                                       Yên tĩnh

Iwa ni shimiiru                                    Thấm vào đá

Semi no koe                                         Tiếng ve sầu

 

 

Nơi đây hiu quạnh một màu,

Tiếng ve rầu rĩ, luống sầu núi non !

hoặc:

Giữa trưa bỗng tiếng ve sầu,

Nghe chừng vách đá nhuốm màu tịch liêu !

hoặc:

Chùa xưa nghiêng bóng trưa Hè,

Ve kêu rền rĩ : tư bề quạnh hiu !

Trong thơ haiku có lắm bài nhắc đến tiếng ve sầu. Tiếng ve, giống như tiếng nước khua, có tác dụng như một câu công án, không làm ta cảm thấy ồn ào mà ngược lại khiến ta ý thức được sự tĩnh mịch của buổi trưa Hè.

Con ve sầu, chữ Hán gọi là Thiền蝉, là tiếng đồng âm dị nghĩa với chữ Thiền禅 của Thiền tông.

·        Tiếng cuốc gợi niềm hoài cổ

Kyō nite mo                                         Tuy ở kinh đô

Kyō natsukashi  ya                              Mà nhớ kinh đô

Hototogisu                                          Chim cuốc

 

Hôm nay nằm giữa kinh thành,

Cuốc kêu nhớ lại kinh thành năm nao !

            Trong văn học cổ điển Việt Nam, hình ảnh chim cuốc khá phổ biến. Chim cuốc còn có tên là “cuốc cuốc”, “quốc”, “quốc quốc”, “đỗ quyên”, “đỗ vũ”, hay “tử quy”.

Theo truyền thống văn học Việt Nam, chim cuốc thường được dùng theo điển tích là hồn Thục Đế nhớ nước:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
           Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

                                                            Bà Huyện Thanh Quan

 Trong văn học Nhật, chim cuốc (hototogisu) có thể viết chữ Hán là ‘đỗ quyên’ 杜鵑, ‘bất như quy’ 不如帰, hoặc ‘thời điểu’ 時鳥. Tuy không mang cùng hình tượng, hototogisu vẫn gợi cái gì u tịch và hoài cổ — đúng với tâm trạng Bashō khi trở lại kinh đô, Kyoto, nhưng vẫn cảm thấy có gì mất mác khi hồi tưởng lại đất thần kinh của một năm nào.

            Nhà thơ Nguyễn Bính mồ côi mẹ từ hồi còn trẻ, lại thêm cảnh nhà túng thiếu, từ Nam Định phiêu bạt vào Huế. Khi đến thăm xóm Ngự Viên, nơi đã một thời là vườn Thượng Uyển,  

Sớm Đào trưa Lý, đêm Hồng phấn,
            Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên.

Trước cảnh ‘giậu đổ bìm leo’ (“Giậu đổ dây leo suồng sả quá”) nhà thơ đã biểu lộ mối cảm hoài của mình qua hai câu, mà tứ thơ không có gì khác lắm so với hai câu trên của Bashō:

Hôm nay có một người du khách,
            Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên !
[25]

·        “Rộng thương cỏ mọn hoa hèn”

a.      Hoa mã đề (馬蹄nazuna):

Yoku mireba                                        Nhìn kỹ

Nazuna hana saku                              Hoa mã đề đang nở

Kakine kana                                        Bên giậu

 

Mắt nhìn bên chiếc giậu tre,

Lơ thơ mấy bụi mã đề đơm hoa.

                                             

Trong thơ Bashō ta thường bắt gặp những hình tượng nhỏ bé nhưng lời ít, ý nhiều : lá xương bồ, hoa thu, hoa nghệ, hoa mã đề, v.v. Trong Thiền học, lời càng nhiều, càng đi xa bản chất của sự vật.

 Hoa mã đề (nazuna馬蹄), đúng như tên chữ Hán là “Tiền-xa-thảo前車草” (cỏ-mọc-trước-xe), thường mọc bên vệ đường, giống như một loài hoa dại. Hoa mã đề, nazuna, còn viết là 薺(tề), là loại hoa sống được hai năm. Thân cao chừng 30 centimét, hoa có hình thập tự bé, nở vào mùa Xuân. Khóm hoa màu trắng — không rực rỡ như hoa hồng, hoa cúc — nở bên bờ rào nhũn nhặn, có mấy ai đoái hoài nghĩ đến !

Hoa mã đề thuộc trong bộ hoa môi (Lamiales), tên khoa học là Plantaginaceae

 Cảm tính của Bashō được biểu lộ ngay với cả loài cỏ mọn hoa hèn, gây cọng cảm và làm ấm lòng người đọc. Bất giác ta liên tưởng đến ‘cái giậu mồng tơi’ dễ thương trong thơ Nguyễn Bính:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
           
 Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn…

Hoặc mấy khóm gừng luống tỏi đầy ‘nhân tính’ trong bài thơ của Ôn-Như-Hầu Nguyễn Gia Thiều (1741-98): 

Lởm chởm gừng vài khóm,

Lơ thơ tỏi mấy hàng,

Vẻ chi là cảnh mọn

Mà cũng đến tang thương.

b.     Hoa thu (hagi)

 

Yuki yuki te                                         Đi, đi mãi

Taore fusu tomo                                  Dầu có ngã trên đường

Hagi no hara                                       Cánh đồng hoa thu

 

Mai đây có ngã trên đàng,

Cho tôi xin ngã giữa ngàn hoa thu !

 

Cây thu thuộc họ đậu, cao chừng 1 mét rưởi, mọc thành từng bụi. Cành thường lã xuống. Hoa màu hồng tía hay màu trắng.

 Trong các tác phẩm của Bashō, chúng ta thấy có nhiều hoa thu. Nhà thơ chắc hẳn mến loài hoa ‘cỏ mọn hoa hèn,’ đơn sơ, không rực rỡ lộng lẫy — có từ thuở xa xưa. Hoa thu là một trong bảy loại cây cỏ tiêu biểu của mùa Thu (七草thất-thảo), người Nhật gọi là nanakusa

c.     Hoa nghệ (紅花benibana)

 

Mayu haki o                                        Kẻ lông mày

Omokage ni shite                                Liên tưởng đến

Beni no hana                                       Hoa nghệ phấn

 

Bên đường hoa nghệ nở vàng,

Người xưa bên cửa điểm trang thuở nào…

hoặc:

Nghệ nở vàng hoe cả cánh đồng,
           Có ngồi bên cửa điểm trang không ?

 

Cây nghệ thuộc họ cúc và sống được một hay hai năm. Cây nguyên ở Ả Rập và vùng Tiểu Á Tế Á, dùng để lấy dầu, dược liệu, hay thuốc nhuộm. Người ta dùng hột để lấy dầu, khi đốt hột ra tro người ta lấy tro đó làm mực xạ.

Thân cây cao từ 30 đến 90 centimét, chung quanh lá có gai lởm chởm. Vào mùa Hè, hoa nở một phần màu vàng nghệ, một phần sắc đỏ tươi rực rỡ. Huyện Yamagata trồng nhiều nhất nước Nhật về hoa nghệ; người ta thường trồng cả một cánh đồng.

 

·        “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”

Okuraretsu                                          Được người đưa tiễn

Okuritsu hate wa                                Rồi đưa tiễn người

Kiso no aki                                          Mùa Thu ở rừng Kiso

 

Tiễn đưa, đưa tiễn mấy lần,

Quan san Thu đã nhuốm rừng Ki-so !

 

          Cây kaede (楓) chữ Hán gọi là “phong”. Cây phong vào mùa Thu lá đỏ rực gọi là momiji (紅葉 hồng diệp), tức là “lá đỏ”.

Truyện Kiều có câu:

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san,
       
     Dặm hồng bụi cuốn chinh an.
      
      Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh…

(Câu 1520-1522)

 

Cây phong của Nhật Bản và cây phong trong Truyện Kiều phải giống nhau. Tuy nhiên, cây phong ở Nhật (Japanese maple) vào mùa Thu lá đỏ rực như lửa, khác những cây phong thường. Nước ta tuy không có cây phong, nhưng Tiên Điền Nguyễn Du đã đi sứ sang Trung Hoa và nhà thơ đã mượn Trung Hoa làm tìêu chuẩn đối chiếu.

Theo nhân sinh quan của Bashō, đời là một chuyến đi hay một cuộc lữ hành. Trong đời có bao biết nhiêu lần tiễn đưa, đưa tiễn. Trong bài thơ trên, Bashō tuyệt nhiên không nói đến tình cảm luyến tiếc của kẻ ở người đi lúc chia tay. Theo tinh thần của Thiền tông, người làm thơ haiku không biểu lộ tình cảm riêng tư, tức là phải vô ngã (muga無我). Ở đây nhà thơ chỉ nói đơn sơ là sau mấy bận tiễn-đưa-đưa-tiễn, mùa Thu đến lúc nào chẳng hay.

Nhẹ nhàng thật, nhưng có gì man mác, lưu luyến.

·       

                   Hoa anh đào muôn thuở

            Samazama no                                      Nhiều

Koto omoidasu                                    Chuyện nhớ lại

Sakura kana                                        Hoa anh đào !

 

Khơi bao niêm nhớ vô vàn,

Cánh hoa đào ấy chẳng tàn trong tôi !

  

          Bài thơ còn có thể hiểu như sau:

Bao nhiêu thế sự cùng năm tháng,

Vẫn nhớ đào hoa một dạo nào !

                                    hoặc: 

Dẫu cho ngày tháng phôi pha,

Chao ôi nhớ mãi hoa đào năm nao !

                                    hoặc:

Nhớ chi ngày tháng qua rồi ?

Nhớ chăng chắc hẳn anh đào ngày xưa

 

 Hoa anh đào với người Nhật có ý nghĩa rất đặc biệt. Cứ vào cuối tháng ba cho đến đầu tháng tư mỗi năm, khi hoa anh đào nở, dân chúng lại nô nức rủ nhau đi xem hoa.

Nhiều người thích đi tản bộ dưới những cành hoa, vừa ngắm hoa vừa chụp hình lưu niệm. Lắm kẻ lại thích cùng gia đình hoặc bầu bạn trải chiếu ngồi dưới gốc hoa — vừa thưởng hoa vừa ăn uống, ca hát.

Ngày tựu trường mỗi năm học ở Nhật cũng vào đầu tháng tư, đúng vào mùa hoa anh đào. Vì thế người Nhật gọi bạn đồng song là ‘bạn cùng mùa hoa anh đào’ (dōki no sakura同期の桜). Lâu ngày gặp lại bạn đồng song, người ta không khỏi nhớ đến mùa hoa anh đào thuở mới quen nhau. Na ná như người Việt khi nhìn cành hoa phượng, ‘hoa học trò’, lại thổn thức nhớ lại tuổi hoa niên:

 

Sao bông phượng nở trong màu huyết,

            Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu ?[26]

                                               Hàn Mặc Tử

Hoa anh đào có nhiều loại: có loại hoa đơn, có loại hoa kép, có loại có cành lả ngọn tựa như liễu rũ v.v.

Hoa anh đào nào cũng chóng tàn. Ngày xưa, người võ sĩ (samurai) đã chọn hai thanh kiếm và hoa anh đào làm biểu tượng, bởi lẽ người võ sĩ nguyện sẵn sàng hiến thân cho chủ tướng giống như hoa anh đào sẵn sàng rơi rụng trước cơn gió nhẹ. Nói theo ngôn ngữ nhà Phật, hoa anh đào là biểu tượng của sự vô thường (mujō 無常), vô ngã (muga無我) trong cuộc đời.

Bashō đã sáng tác bài thơ trên khi trở lại cố lý ở Iga (nay thuộc huyện Mie) và viếng thành Ueno, nơi hơn hai mươi năm trước đã một thời là võ sĩ dưới trướng của Tōdō Yoshitada. Sau đó, vì chủ quân mất sớm, Bashō đã từ bỏ phù hoa của thế tục để lấy gió trăng làm bạn lữ.

Nhìn lại những cành hoa anh đào mang sắc hình của tuổi hoa niên giờ đang nở rộ dưới nắng Xuân, chắc hẳn nhà thơ cũng dậy lên biết bao kỷ niệm. Tuy nhiên, Bashō vẫn trầm tĩnh như mọi khi, chỉ cho biết là nhà thơ chợt nhớ lại cánh hoa đào ngày trước. Dĩ nhiên chúng ta đoán hiểu là cánh hoa đào nơi cố lý đã xui nhà thơ nhớ lại chuyện xưa.

Lời thơ đơn sơ, nhẹ nhàng, nhưng hàm súc và sâu lắng.

Viết lại xong vào những ngày áp Tết Tân Mão (2011)

         VĨNH SÍNH
 

 

[19]Genji monogatari, tương truyền do nữ sĩ Murasaki Shikibu (970-1031 sau CN) sáng tác. Một số nghiên cứu gần đây có khuynh hướng cho rầng Truyện Genji là một cọng tác, thay vì Murasaki Shikibu sáng tác đơn độc. Theo các học giả từ-điển-học người Nhật, danh từ Utsusemi cũng xuất hiện vào Heian.

[20] Tanka (短歌 đoản-ca, tức thơ ngắn) có 31 âm tiết theo thứ tự  5-7-5-7-7, và chōka (長 歌trường-ca) với số âm tiết không có giới hạn. Tankachōka gọi chung là waka ( 和歌hòa-ca; tức thơ Nhật Bản).

[21] Phương ngữ Huế.

[22] Tức cây mận.

[23] Tức cây nhãn.

[24] Cây Ngải-Tướng-quân có bẹ lá rất lớn, thân cây cao từ một mét hoặc một mét rưỡi. Tuy cây tương đối thấp, ve thích thay vỏ trên cây; vỏ ve nằm ngay trên bẹ lá. Hoa màu trắng, đẹp, trông rất tinh khiết. Tục truyền vua Gia Long hồi còn bôn ba tẩu quốc đã dùng củ cây này chữa bệnh được cho nhiều người. Nhân đó, cây ngải được nhà vua phong làm “Ngải-Tướng-quân.”

[25] “Xóm Ngự Viên” trong tập Thơ Nguyễn Bính (Hà Nội: Nxb Văn học Hà Nam Ninh và Nxb Văn Học, 1986), trang 76-78.

[26] Trong bài “Những giọt lệ”, trích từ Tuyển tập Hàn Mặc Tử, trang 79.

[27] Tiếng Nhật gọi lối đi này là “Tetsugaku no michi” (“Philosophers’ Walk”) rất đẹp và thơ mộng, đặc biệt vào mùa hoa anh đào. Giữa hai bên lối đi có dòng nước chảy.

 

VĨNH SÍNH

 

 

 

Có 3 bình luận về Tiếng ve sầu muôn thuở (kỳ 2)

  1. hongbang nói:

    Đọc bài viết “Tiếng ve sầu muôn thuở”, giới thiệu Ba so và thơ haiku, của T/g Vĩnh Sính do anh Ngô Nguyên Nghiễm gửi đến trang nhà, trong tôi như tràn ngập rừng hương kỳ hoa dị thảo. Tôi thực sự chóang ngộp với những minh họa qua thơ Việt. Những Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Hàn Mặc Tử…vụt trỗi lên rồi lắng xuống.. gợi nhiều hứng khởi. Xin cám ơn t/g Vĩnh Sính và anh NNNghiễm  đã giúp đỡ kịp thời cho trang TPH.VL trong” Bước 2, Haiku và Thơ Việt”và qua đó,. hy vọng có những bài thơ hay của anh em. HB.

  2. NHA nói:

    Sáng nay vừa đi bộ thể dục trong sân vận động vừa đọc bài này, say mê đến quên chạy theo “chương trình” hằng ngày. Bài viết thật thú vị. Học hỏi theo để viết được Haiku hay, tôi nghĩ là không dễ.

    NHA

     

     

  3. Phú Thạnh nói:

    Máy nhà tôi bị hư . Nay lên SG đọc nhờ máy của con mới xem hết được  TVSMT của t/g Vĩnh Sính, Bài viết quá hay và chất lượng, công phu, vượt thòi gian. Đọc 1 lần chưa thắm vào đâu. Có thời gian sẽ đọc lại nữa . Bây giờ chỉ biết cám ơn t/g Vĩnh Sính nhiều lám……NPT.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác