NGƯỜI ĐI HỌC CUỐI CÙNG

Ngày đăng: 21/05/2026 10:01:32 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Chiều xuống rất chậm trên căn nhà nhỏ cuối con dốc. Những hạt mưa tháng sáu lất phất rơi lên mái tôn cũ, tạo thành âm thanh đều đều như tiếng phấn viết trên bảng đen ngày trước. Ông Lâm ngồi bên cửa sổ, đôi bàn tay gầy đặt lên chồng giáo án đã úa vàng theo năm tháng. Hôm nay là ngày đầu tiên sau bốn mươi năm ông không còn phải lên lớp.

Chiếc đồng hồ treo tường tích tắc. Ngoài sân, cây hoa sữa già lay động trong gió. Ông nhìn khoảng sân loang nước mưa mà thấy lòng mình trống trải lạ lùng.

Bốn mươi năm.

Một đời người.

Ông khẽ cười, rồi lại thở dài. Ngày đầu tiên đứng lớp, ông mới hai mươi hai tuổi. Khi ấy, ông vừa tốt nghiệp trường sư phạm, gầy nhẳng, đôi mắt sáng và luôn mang trong người một niềm tin ngây thơ rằng nghề dạy học là nghề đẹp nhất trên đời.

Nhiệm sở đầu tiên của ông là một tỉnh miền núi xa xôi trên cao nguyên . Chuyến xe khách cũ kỹ chở ông đi suốt hai ngày một đêm qua những con đường ngoằn ngoèo, vực sâu hun hút. Mưa rừng đổ xuống trắng trời. Có đoạn sạt lở, hành khách phải xuống đi bộ, lội bùn đến tận đầu gối.

Ông còn nhớ rất rõ cảm giác khi lần đầu nhìn thấy ngôi trường nhỏ nằm nép bên sườn núi. Ba dãy nhà gỗ lợp fibro xi măng bạc màu. Sân trường đất đỏ. Cột cờ nghiêng nghiêng trong gió.

Hiệu trưởng khi ấy là một người đàn ông tóc đã hoa râm. Thầy bắt tay ông thật chặt rồi nói: — Cậu trẻ nhất trường đấy. Nhưng đã làm thầy giáo thì phải nhớ một điều: đừng bao giờ nghĩ mình biết đủ. Câu nói ấy theo ông suốt đời. Những năm tháng miền núi là quãng đời không thể quên.

Ban ngày lên lớp. Ban đêm soạn bài dưới ánh đèn mờ trong căn nhà trọ. Mùa đông lạnh cắt da, tay cóng đến mức cầm phấn run lên. Có lần mưa liên tiếp nhiều ngày, đường đầy bùn, học trò vẫn đi bộ hàng chục cây số đến trường, chân quấn giẻ, áo mỏng tanh.

Ông nhớ cậu bé tên Y Puat ngồi bàn đầu, học rất giỏi toán nhưng mùa gặt thường nghỉ học cả tuần để theo cha mẹ lên nương. Nhớ con bé H’ Yưp viết chữ đẹp như in, vậy mà năm mười sáu tuổi đã lấy chồng.

Nhiều đêm ông thao thức.Ông tự hỏi mình có thể làm gì cho những đứa trẻ ấy ngoài vài bài giảng trong sách giáo khoa. Rồi ông bắt đầu học. Học tiếng dân tộc êđê  để nói chuyện với phụ huynh. Học cách nhóm bếp củi cho khỏi khói cay mắt. Học cả cách chữa sốt bằng lá rừng từ bà con trong buôn. Ông đọc thêm sách, ghi chép từng điều nhỏ nhặt. Có lần chạy xe hơn hai mươi cây số chỉ để mượn một cuốn sách phương pháp giảng dạy mới.

Dần dần, ông hiểu ra rằng nghề dạy học không phải là nghề “mang kiến thức đến cho người khác”, mà là hành trình học cùng con người. Sau này, khi chuyển về thành phố, dạy tại ngôi trường ông đã từng học, nhiều thầy cũ của ông vẫn còn đó. Thế mà nhiều người gọi ông là “ông giáo khó tính”. Ông nghiêm khắc thật. Học sinh sợ những bài kiểm tra bất ngờ của ông. Đồng nghiệp ngại những cuộc tranh luận chuyên môn kéo dài đến tối.

Nhưng ai cũng biết ông chưa từng ngừng học. Bốn mươi tuổi, ông học vi tính khi nhiều người cùng thế hệ còn e dè trước màn hình xanh lập lòe. Năm mươi tuổi, ông tập dùng internet để tìm tài liệu cho học sinh. Sáu mươi tuổi, ông vẫn ghi danh các lớp tập huấn, ngồi chăm chú như một sinh viên trẻ. Trên bảng đen lớp học của ông luôn có một dòng chữ viết bằng phấn trắng:

“Người dạy học là người đi học suốt đời.” Học sinh nhiều thế hệ đều nhớ câu ấy.

Nhiệm sở cuối cùng của ông trước khi nghỉ hưu là ngôi trường nổi tiếng ở một thành phố nổi tiếng, nơi thường được gọi là “ máy cái của ngành “. Nơi đây ông đào tạo những người sẽ kế tục mình đứng trên bục giảng. Ông đã mày mò tự soạn giáo trình để dạy, Ông chỉ đào tạo được ba khoá. Bây giờ nhiều người đã bỏ nghề, nhưng không ai quên ông. Điều an ủi của ông là có những người vẫn tiếp tục, thậm chí ở bậc học cao hơn.

Có em sau này trở thành bác sĩ. Có em làm kỹ sư, nhà báo, cán bộ tỉnh. Thỉnh thoảng họ trở về thăm ông, mang theo những món quà quê giản dị. Nhưng điều khiến ông vui nhất không phải quà cáp, mà là khi họ kể:  — Thầy ơi, giờ con vẫn đọc sách mỗi ngày.

Hay: — Con vẫn đang học thêm cái mới, như thầy từng nói. Mỗi lần như vậy, ông thấy lòng mình ấm lên.                                        Mưa ngoài trời nặng hạt hơn.. Ông đứng dậy, bước đến chiếc tủ cũ rồi lấy ra một hộp gỗ nhỏ. Bên trong là hàng chục lá thư học trò gửi suốt mấy chục năm. Có lá thư giấy đã vàng ố.

“Thầy ơi, nhờ thầy mà em biết mình không cần phải sợ cái nghèo.”                                                                                                    “Con vẫn nhớ lần thầy chạy xe vào buôn  tìm con quay lại lớp.” “Nhờ câu nói của thầy mà con học tiếp đại học.”

Ông đeo kính, đọc chậm rãi từng dòng chữ. Mắt ông cay cay. Người ta thường nghĩ thầy giáo là người cho đi. Nhưng càng sống lâu, ông càng thấy mình nhận lại nhiều hơn. Chính học trò dạy ông về lòng kiên nhẫn. Chính những vùng đất nghèo dạy ông biết yêu điều giản dị.
Chính thất bại của bao thế hệ học sinh khiến ông hiểu rằng giáo dục không phải phép mầu. Có những đứa trẻ mình không giữ được. Có những cuộc đời rẽ sang hướng khác dù đã cố gắng hết lòng. Và chính điều đó dạy ông sự khiêm nhường.

Ông nhớ có lần một học sinh hỏi: — Thầy dạy bao nhiêu năm rồi mà sao còn đọc sách hoài vậy?

Ông đã trả lời ngay mà không cần nghĩ: — Vì nếu một ngày thầy ngừng học, hôm đó thầy không còn xứng đáng đứng trên bục giảng nữa. Khi ấy cả lớp im lặng. Còn bây giờ, ngồi một mình trong buổi chiều mưa, ông bất giác tự hỏi: nếu đã nghỉ hưu, liệu mình còn là người thầy không?

Ông nhìn lên giá sách phủ kín tường. Những cuốn sách cũ mới chen nhau, mép giấy cong lên theo thời gian. Cuốn nào cũng đầy ghi chú bằng nét chữ quen thuộc. Ông bật cười khe khẽ. Có lẽ, người thầy không nằm ở bục giảng. Mà nằm ở cách người ấy sống với tri thức. Ngoài hiên, tiếng xe đạp dừng lại. Một giọng nói vang lên:

— Thầy ơi! Thầy có nhà không ạ?

Ông bước ra mở cửa. Một cô gái trẻ đứng dưới mưa, tay ôm tập tài liệu. Ông nhận ra ngay. Thảo — cô học trò cũ ngày nào. — Em mới được nhận vào trường huyện dạy văn, — cô cười rạng rỡ — nên em đến xin thầy ít kinh nghiệm.

Ông nhìn cô học trò cũ rất lâu. Rồi ông chợt thấy trong lòng mình có điều gì đó sáng lên như ngọn đèn dầu năm xưa giữa núi rừng lạnh giá.

Ông nghiêng người tránh cửa:— Vào đi. Thầy trò mình cùng học.. Ngoài trời, mưa vẫn rơi rất nhẹ.

Ông muốn nói thêm với cô học  trò:: -Thầy vẫn học, và nay có cách học mới: đó là viết, là dịch. Cũng có lúc những gì đã viết thầy in thành sách. Nói em mừng thầy đã xuất bản 22 đầu sách rồi đó.

Việt Phương.

2026

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác