NGHIEP CHƯA HỀ AN NGHỈ
Lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất nghĩa trang Gò Dưa mênh mông này là cuối tháng 3 âm lịch, năm 1996, ngày an táng ba tôi. Lúc ấy khu nghĩa trang hội đồng hương Quảng Bình còn thưa thớt, u tịch nằm dưới những hàng cây cổ thụ êm đềm như một công viên. Biết bao lần tôi đi bộ qua những hàng cây dọc hai con đường thẳng tắp trong tâm trạng thanh thản khôn cùng. Những con đường thẳng tắp, vuông vức, ngang dọc như một thành phố thu nhỏ của thế giới bề bộn bên ngoài. Và nơi đây, một thành phố im ắng, vô thanh, cùng những cư dân nằm lặng lẽ thiên niên. Phía trái lối vào, một ngôi mộ hình con cá lý ngư của mẹ Trịnh Công Sơn cùng trụ đá ba mặt có tiểu tượng mẹ con và giòng văn trích trong tùy bút “Mất mẹ tuổi 50” của Trịnh Công Sơn, như một điểm nhấn sau hơn mười năm, cho những ai đến viếng mộ Trịnh Công Sơn, ngay bên cạnh.

Mộ ba má tôi nằm sát đường phân lô G và sát bờ tường bao bọc khuôn viên nghĩa trang. Bên kia tường, là một nghiã trang khác. Một tiếp nối điệp trùng của những nghĩa trang Gò Dưa mênh mông rộng. Nghĩa trang láng giềng có một sắc thái hỗn độn, không đường đi, không theo một trật tự chôn cất nào, lô nhô chập chùng to nhỏ khác nhau như một xã hội lộn xộn, ngổn ngang gò đống cùng đài các miếu mạo chen chúc phô chút thế quyền cùng những cư dân âm giới. Đôi khi, tôi lại leo qua bức tường thấp lang thang điểm danh những ngôi nhà của những hồn ma. Bên đó, cũng có những người quen cũ tuy chưa từng gặp, như nhà thơ Tạ Ký với tượng bán thân nghiêm túc của một thầy giáo, như Trung niên thi sĩ Bùi Giáng với tượng đúc bằng sắt bặm trợn ra dáng đã đời du côn của một kiếp lãng du lánh đời, chịu chơi cùng dê-vượn-khỉ-đười ươi…nghe dường như phảng phất bóng chàng thi sĩ bụi đời cùng giò lan xuất thế, chào mời tục khách lại qua:
Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu
(Bùi Giáng, Phụng Hiến)
@
Người thân Cung Tích Biền là một trong những cư dân của nghĩa trang láng giềng của Hội đồng hương Quảng Bình. Mỗi lần trên đường ông đến thăm mộ đều đi ngang qua một nấm mồ tan nát lạnh tanh, bỏ hoang phế không biết từ năm nào
“Tôi nhìn thấy cái Hoang ấy đã nhiều năm. Tại nghĩa trang Gò Dưa, Thủ Đức, Sài Gòn. Gò Dưa hôm nay là một thành phố mộ. Nhấp nhô dưới nắng mênh mông mộ. Vô cùng màu sắc sặc sỡ. Mỗi ngôi mộ một cõi riêng. Lớn bé đơn sơ hay huy hoàng là tùy vào tấm lòng và tiền của con cháu kẻ qua đời bỏ ra. Mộ hai tầng tráng lệ bốn bên tường vách như một lăng tẩm, do bà con kiều bào từ nước ngoài về xây cất. Mộ khác tuy nhỏ, nhưng hoa tươi quanh năm. Mộ đá hoa cương. Mộ bia khắc cả bài thơ tưởng niệm dài dặc. Mộ có hai câu đối chữ Hán trên trụ đồng sáng bóng. Mộ nhạc sĩ thời danh rộng thênh, tượng đài chân dung, bãi cỏ xanh, lối đi rải đá cuội.
Đặng Châu Long và Cung Tích Biền
Trong cái biển chết mà lai láng những phô trương, trong cõi ma đầy hoa tươi này có một ngôi mộ hoang, tàn phai. Đúng một lãng quên. Một nỗi Hoang thời thế. Một vết chàm khắc trên trán lưu đày từ văn hóa và đạo lý Tần Thủy Hoàng.
Rác rưởi, đồ phế thải, phân súc vật. Đất cát lấp kín cả diện tích chưa đầy ba mét vuông chỗ xương nằm. Các trụ gạch xây bốn góc bị ai đó đập gãy. Bốn đài hoa sen bằng xi măng trên đầu trụ ngã đổ, bể vỡ nằm lăn lóc. Tấm bia bể một mảng lớn, hình như bị phạng bởi nhiều nhát búa. Phần đỉnh tấm bia cát vùi từ nhiều năm bày ra lờ mờ một cái chóp nón cát kết, loại nón sĩ quan võ bị xưa kia. Mộ khá nhỏ, lại bị lấn chiếm bốn phía để người đời chôn thêm những mả mới chung quanh” (CTB, Nghiệp chưa hề an nghỉ)
Có lẽ chính cái vành mũ casquette còn sót lại trên tấm ảnh bia mộ đã khiến ông sinh tình lân cảm. Như thể Thúy Kiều gặp mộ vô chủ Đạm Tiên trong lần trẩy hội Thanh Minh. Có một điều gì đó khiến lòng ta đau nhói. Nỗi đau của một người đang ngụp lặn giữa cõi sinh tử mịt mù trong ngao ngán phù sinh. “Đời mà đến thế thời thôi/Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi (Kiều)”. Cũng là một người lạ đã từng nghe quen trong một giòng ký ức, để rồi cứ đau đáu một lần tìm hiểu đến cùng tận sự tình. Cũng đâu đó một nỗi chìm trôi “Tôi đây-Mộ này, một hoang phế theo một cách chịu chơi thời thế”
“Nhà văn, nhiều khi mình vẽ ra được cái chết của mình. Mình tả cảnh tả tình một cách đậm đà hôm mình nằm chèo queo trong áo quan. Xưa kia…cái nón trong mộ này. Là khơi khơi biểu trưng một hiện thực không biết phần còn lại như thế nào, ra sao. Nó là một vinh hạnh mà về sau, biến tan nhanh như một ánh sao băng. Phần còn lại của thế giới trong tôi là tự hủy. Tôi chôn mình hơn ba mươi năm trong ánh sao. Tôi ngắm mình chết từ từ như bia đá không còn khả năng tự biện. Tôi đây – Mộ này, mỗi hoang phế theo mỗi cách chịu chơi thời thế. ” (CTB, Nghiệp chưa hề an nghỉ)
Lần nào vào thăm mộ người thân, ông cũng đều mang trĩu nặng nỗi băn khoăn về nấm mộ tàn hoang không quen biết về theo, như một cộng hưởng tàn phai của chính ông. Cuối cùng, ông quyết định giải tỏa tư tưởng u ám của mình và khám phá sự thật. Mướn hai người quản lý nghĩa trang, Cô Bảy và một gã đàn ông có giòng chữ xăm”Tao thù con đĩ ngựa”, ông bắt đầu dọn dẹp rác rưởi, đắp lại tấm bia vốn lâu nay bị lấp vùi, sau lời khấn:
“ Người anh em an nghỉ trong đất mẹ yêu mến. Không cái lăng tẩm nào cả. Anh ngủ khá lâu dưới chưa đầy ba mét vuông đất Gò này. Anh được trang hoàng rất thời thượng bên trên là bãi rác, phế liệu, lông gà. Không cỏ xanh không hoa lá. Một cái mả bị triệt để trần trụi hóa. Hồ hởi, phấn khởi hạ bệ… Xin phép người anh em cho tôi bới mộ ra xem tên tuổi quê quán, ngày sinh tháng tử, mặt mày anh trên bia đá thử nào. Lâu quá đi, chỉ thấy cái chóp mũ thôi. Tha lỗi nghe người anh em. Cũng là đồng điệu.
Tôi sẽ biết ngay tên tuổi, ngày tháng qua đời của mình ngay trên cái bia mộ không màu. Đúng ra một màu xám cũ, buồn phiền và lẻ loi dưới nắng vàng Gò Dưa. Phía dưới kia là mộ Bùi Gíáng. ” (CTB, Nghiệp chưa hề an nghỉ)
Và ông đã thỏa, tuy lòng thêm đau. Người dưới mộ là Thiếu Úy Thái Vĩnh Nghiệp, sinh 1954, tử 11-3-1975, cả hai năm đều đậm dấu ấn lịch sử, đau thương. Ông trầm ngâm, bùi ngùi. Cô Bảy vốn là người đanh đá là vậy, nhìn ông, nhìn mộ cũng thấy lòng chùng:
“ Thái Vĩnh Nghiệp một khuôn mặt rất trẻ rất thanh tú, bị đục khoét bởi những đường búa. Vẫn còn một con mắt xa xăm trên bia đá. Vẫn một cái gì rất riêng bên dưới phần đất Mẹ, mà trên mặt đời đầy cát bụi rác rưởi phân gà xương chó.
– Thắp thêm nhang cho anh Nghiệp, thầy Hai.
Tôi vừa sững sờ vừa ngây dại hỏi:
– Có thật cô muốn thắp một nén nhang thành kính? Buổi sáng cô làm tôi hãi quá.
Bảy nói tỉnh queo, như một tâm sự từ lâu mới được thổ lộ:
– Úi dà em cũng học xong cấp tú tài chớ bộ. Thầy coi, sống trên cái xứ ma mị này, mở con mắt ra là thấy tứ bề bọn lưu manh lừa đảo hung hãn chụp giựt, dối cha lừa chú. Tối ngủ quanh đây là mả mồ ma hiền ma dữ ma đói ma giàu ma ác ôn ma nghệ sĩ. Nhiều đêm trăng nhờ nhờ người ta la hét vây bắt bọn ma túy, hãm hiếp, giết người. Sáng ra, đọc báo hằng ngày thấy nghìn vụ việc nước non thời sự còn thối hoắc hơn cái xác phàm chết hai ba ngày chưa khâm liệm. Thầy hươi, không mất dạy cũng thành mất dạy. Không hung dữ tranh giành chúng cướp cạn ngay cái sống của mình.” (CTB, Nghiệp chưa hề an nghỉ)
Thế giới này vốn dĩ từng ngày bị chia cắt trong tình người và nỗi đời, nhưng thấp thoáng đâu đó vẫn còn lấp lánh những giọt sương tình đọng. Làm sao khơi dậy được con người trong cõi đa đoan này?
Có lẽ bởi nghĩa trang này chính là một phần ký ức tôi, nên những thước phim đời của Cung Tích Biền đã làm lao xao tôi. Cái tên Thái Vĩnh Nghiệp nghe chừng đã lướt qua trong mắt tôi trong một lần lang thang nào đó, có lẽ. Bây giờ tôi lại thấy chùng lòng hơn.
Gần như cả đêm tôi không ngủ sau khi đọc xong câu chuyện, chưa hẳn là câu chuyện trên, nhưng một phần bởi những câu đối đáp giữa ông và Cô Bảy ở cuối truyện. Những câu trả lời gạt phăng câu nói như một nỗi trốn chạy những nỗi niềm, của chính ông, của tôi, của những người trong cuộc. Dù đã quá xa có một thời tối ám, nhưng một lời khơi gợi chỉ khiến lòng đau.
“ Thôi đừng nói chuyện thịt xương chia chác cô Bảy.”
……….
“Thôi đừng nhắc tới phong trào phong triệt cô Bảy.”
………..
“Thôi đừng nói chuyện trong đất giữa đời xương cốt nhục vinh cô Bảy.”
……………..
“Thôi đừng nói chuyện đánh lộn dập đầu lủng ruột lòi tròng trắng tròng đen trên mả mồ nữa cô Bảy.”
……….
“ Thôi đừng nói chuyện vào tù khám nữa cô Bảy. Đầu tôi tôi lo.”
………….
-“ Sao cái chi thầy Hai cũng thôi đừng thôi đừng?”
-“Thôi mà”
CUNG TICH BIỀN
