MỘT VÀI GIAI THOAI VỀ TỐNG PHƯỚC HIỆP 

Ngày đăng: 12/04/2026 09:52:42 Sáng/ ý kiến phản hồi (0)

Ông Tống Phước Hiệp ( ? – 1776 ) còn có tên là Kỉnh, thuộc dòng dõi họ Tống Phước. Họ Tống Phước có công rất lớn đối với nghiệp đế của chúa Nguyễn và trong sự nghiệp mở rộng bờ cõi phương Nam. Ông là cháu của cụ Tống Phước Dự, giữ chức Nội tả Chưởng dinh đời Hiển Tông Hiếu Minh hoàng đế năm 1707, bậc khai quốc công thần của chúa Nguyễn.

Cụ Tống Phước Dự còn có con trai là phò mã. Qua đó, ta có thể phỏng đoán quê hương của dòng họ Tống Phước ở dinh Quảng Nam.

Vào giữa thế kỷ 18, vùng đất mới ở hạ lưu sông Cửu Long (bao gồm phần lớn miền Tây Nam bộ) dần dần được tổ chức. Năm 1759, chúa Nguyễn quyết định thành lập ở đây dinh thứ 12 trong 12 dinh thuộc thuộc chúa Nguyễn ở Đàng Trong, lấy tên là Long Hồ dinh. Trụ sở của dinh được tại Vĩnh Long và ông Tống Phước Hiệp được bổ nhiệm làm trấn thủ đầu tiên. Ông là người có công rất lớn trong việc mở mang phát triển kinh tế, giữ gìn và ổn định sinh hoạt xã hội không những cho dinh Long Hồ, mà còn cho vùng đất miền Tây Nam phần, nơi quân Xiêm luôn luôn dòm ngó và nhiều lần đem quân xâm chiếm nhưng đều thất bại.

Giữa lúc ông đang tổ chức khai hoang, lập ấp, thu phục nhân tâm, bảo đảm an ninh trật tự cho nhân dân an cư lạc nghiệp trên vùng đất mới thì tháng 9/1770, tướng Xiêm là Phi Nhã Tân vây đánh trấn Tây Thành – Hà Tiên rồi xông vào phóng hỏa đốt dinh. Tháng 10/1770, tướng Chiêu Khoa Liên xua quân Xiêm sang chiếm Hà Tiên. Chống cự không nổi, Mạc Thiên Tứ phải lui quân về Cần Thơ. Lợi dụng thời cơ ấy quân Xiêm tiếp tục tràn xuống Cần Thơ, Long Xuyên. Tình thế các vùng lân cận hết sức nguy ngập. Trấn thủ Long Hồ dinh, Cai cơ Kỉnh Thận Hầu Tống Phước Hiệp đem binh tiếp ứng đánh lui giặc; chém 300 thủ cấp. Quân Xiêm đại bại, tướng Chiêu Khoa Liên phải bỏ thuyền lên bờ chạy về Hà Tiên. Nhưng một số quân Xiêm vẫn còn đóng ở mạn Châu Đốc nên tháng 6/1772, Tống Phước Hiệp dẫn quân theo sông Hậu Giang đến Châu Đốc tiếp ứng cho lực lượng của Chưởng cơ Nguyễn Cửu Đàm đuổi quân Xiêm chạy dài về nước. Xong quân ta đưa Nặc Tôn về Nam Vang. Từ đó quân Xiêm bỏ hẳn ý định dòm ngó, cướp phá vùng đất mới của ta. Cũng từ đó, các tỉnh miền Tây thoát khỏi họa xâm lăng của quân Xiêm, dân chúng được an cư lạc nghiệp.

Năm 1773, trước họa nhiễu nhương, lộng hành của chúa tôi nhà Nguyễn, anh em Tây Sơn nổi lên chiếm thành Quy Nhơn, rồi mở rộng địa bần sang các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận. Năm 1774, tướng Trịnh ở Đàng Ngoài là Hoàng Ngũ Phúc tiến quân vào Nam xâm lấn đất chúa Nguyễn. Tình thế chúa Nguyễn hết sức nguy ngập. Lập tức, Tống Phước Hiệp đốc lãnh tướng sĩ năm dinh, thủy bộ cả thảy 20.000 quân tiến thẳng tới Phú Yên lấy lại được 3 phủ là Bình Thuận, Diên Khánh, Bình Khánh. Nhưng rồi bị quân của Nguyễn Huệ tiến đánh, quân của Tống Phước Hiệp phải bỏ chạy về giữ Vân Phòng, tỉnh Khánh Hòa.

    Mặc dù là võ tướng luôn cầm quân đánh dẹp từ miền Tây Nam phần ra đến miền Trung, nhưng quan Trấn thủ Long Hồ dinh Tống Phước Hiệp hết sức chăm lo đến công việc trị an ở Vĩnh Long. Ông khuyến khích mọi người hăng hái khẩn hoang lập ấp và có biện pháp cụ thể như cấp dụng cụ làm ruộng, chăm lo giữ gìn trật tự, đảm bảo an ninh bên trong cũng như bên ngoài, mở rộng giao thương, khuyến khích buôn bán, trao đổi hàng hóa. Mọi người đều chăm lo sản xuất. Nhờ đó, cuộc sống thanh bình, ấm no lan khắp nơi. Ông còn là một vị quan thanh liêm, chánh trực, áp dụng luật pháp nghiêm minh. Nhờ công đức của ông, dinh Long Hồ trở thành trung tâm của các tỉnh miền Tây, thu hút dân cư các nơi đến lập nghiệp. Trong đó có cả đồng bào người Khmer. Ông yêu thương, chăm lo đời sống của họ với tấm lòng của bậc “chi dân phụ mẫu”, là người có công lớn trong sự nghiệp xây dựng nền móng vững chắc mọi mặt cuộc sống ở dinh Long Hồ. Công đức của ông cảm hóa được người Việt cũng như người Khmer.

Tống Phước Hiệp là một nhân vật lịch sử quan trọng trong quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đặc biệt gắn liền với vùng đất Nam Bộ (Gia Định – Vĩnh Long ngày nay). Cuộc đời ông vừa mang tính lịch sử rõ rệt, vừa bao quanh bởi nhiều giai thoại dân gian thú vị.

Ông sống vào thế kỷ XVIII, dưới thời các chúa Nguyễn. Là một võ tướng kiêm quan lại cao cấp, từng giữ chức Tham tướng, sau đó được cử vào trấn giữ vùng Gia Định.

Ông đóng vai trò quan trọng trong việc: Ổn định vùng đất Nam Bộ mới khai phá.
Đối phó với các thế lực nổi dậy và ngoại xâm (đặc biệt là quân Xiêm và nội loạn). Sau này, ông trở thành một trong những trụ cột giúp chúa Nguyễn duy trì quyền kiểm soát ở phương Nam trong giai đoạn đầy biến động.

Thời kỳ của Tống Phước Hiệp gắn với những biến cố lớn:   Sự nổi dậy của Tây Sơn; Nội bộ chính quyền chúa Nguyễn suy yếu;       Sự tranh chấp  quyền lực tại Gia Định

Ông nổi tiếng là người: Trung thành với chúa Nguyễn, Có tài quân sự nhưng cũng thận trọng, biết giữ thế phòng thủ.

Tuy nhiên, trong một số thời điểm, ông bị đánh giá là thiếu quyết đoán, khiến tình hình Gia Định rơi vào thế khó. Xung quanh Tống Phước Hiệp có nhiều câu chuyện truyền miệng, thể hiện cách nhìn đa chiều của dân gian:

Người ta kể rằng ông: Là người nhân hậu, không muốn sát phạt nhiều;    Thường cân nhắc kỹ trước khi ra quyết định. Điều này khiến dân gian vừa kính trọng, vừa tiếc nuối, cho rằng ông “có đức mà thiếu chút quyết liệt” trong thời loạn.

Có truyền thuyết kể rằng ông từng: Xử một vụ kiện phức tạp giữa dân khai hoang.
Dùng lý lẽ và sự hiểu biết phong tục để phân xử hợp tình hợp lý. Vì vậy, ông được dân địa phương xem như một vị quan công bằng, gần dân. Sau khi qua đời, ở vùng Nam Bộ có nơi lập đền thờ ông. Dân gian kể rằng:  Ông “hiển linh” giúp dân tránh tai ương
Che chở người đi khai khẩn

Điều này phản ánh việc ông được thần hóa trong tâm thức dân gian, giống nhiều nhân vật khai phá phương Nam khác. Tống Phước Hiệp là hình ảnh tiêu biểu của lớp quan lại Nam tiến: Ưu điểm: Trung thành với chúa Nguyễn..Có công ổn định vùng đất mới. Gần gũi dân chúng

Hạn chế (theo một số sử liệu): Thiếu quyết đoán trong thời điểm then chốt. Không đủ mạnh để xoay chuyển cục diện khi Tây Sơn nổi lên.   Hiện nay tên ông được đặt cho đường phố, địa danh ở miền Nam.  Một số nơi có đình, miếu thờ.   Trong ký ức dân gian, ông là:    “Vị quan hiền của đất phương Nam buổi đầu khai phá.”

Giai thoại: Xử án ruộng đất giữa hai làng

Thuở ấy, vùng Gia Định còn hoang vu, dân từ nhiều nơi đến khai khẩn. Một ngày, hai làng ven sông xảy ra tranh chấp dữ dội về một dải đất màu mỡ:  Cả hai bên đều khẳng định mình là người khai phá trước.

Không có giấy tờ rõ ràng. Dân hai làng suýt đánh nhau vì ruộng. Vụ việc được đưa lên quan trấn, và Tống Phước Hiệp đích thân xử lý.Ông không vội phán quyết. Thay vào đó, ông cho: Gọi những người già nhất của cả hai làng đến hỏi chuyện. Yêu cầu họ kể lại quá trình khai hoang, từng mùa nước, từng dấu mốc tự nhiên. Sau đó, ông ra một lệnh lạ: Cho dân hai làng cùng ra cánh đồng tranh chấp vào lúc sáng sớm, khi sương còn đọng. Ông nói: “Ai thực sự canh tác lâu năm, sẽ biết rõ đất mình — từ lối đi, bờ cỏ đến chỗ nước đọng.”

Sự thật lộ ra:

Khi ra đồng: Một bên đi rất tự nhiên, biết rõ từng lối nhỏ, từng gốc cây. Bên kia thì lúng túng, không rõ ranh giới cụ thể.
Không dừng ở đó, Tống Phước Hiệp còn:   Quan sát dấu chân, cách gọi tên từng thửa ruộng. Nghe cách họ nói về đất như nói về “của mình” Cuối cùng, ông phán: Giao đất cho bên thực sự gắn bó và hiểu rõ mảnh ruộng Bên còn lại được cấp đất khác để tránh oán hận

Ý nghĩa giai thoại

Câu chuyện này được người dân kể lại để nói về ông như một vị quan: Không chỉ dựa vào giấy tờ (vốn hiếm thời khai hoang) mà dựa vào trải nghiệm sống và sự thật tự nhiên.    Xử án vừa công bằng vừa nhân hậu.Dân gian thường kết lại bằng một câu:

“Quan Hiệp xử đất — không nhìn lời, chỉ nhìn chân người đi trên đất.”

Giai thoại: “Quan Hiệp hiện về giữa đêm giông”

Sau khi Tống Phước Hiệp qua đời, người dân ở vùng ven sông (thuộc Gia Định xưa) lập một ngôi miếu nhỏ để thờ ông. Họ tin rằng ông là vị quan hiền, sẽ tiếp tục phù hộ cho dân khai hoang.

Một năm nọ, vào mùa mưa lớn: Nước sông dâng cao bất thường; Gió giông kéo đến dữ dội; Dân làng lo sợ đê sẽ vỡ, cuốn trôi hết ruộng vườn.

Giữa đêm mưa gió, có người kể rằng họ thấy: Một bóng người mặc áo quan xưa  đứng trên bờ đê, tay chỉ huy như đang ra lệnh. Giọng trầm vang trong gió:    “Đắp chỗ này! Giữ đoạn kia!”

Lạ lùng thay: Những người thức canh đê đều nghe thấy.-  Ai nấy như bị thôi thúc, lập tức làm theo.

Sáng hôm sau khi trời sáng: Đoạn đê suýt vỡ đã được gia cố kịp thời- Nước rút dần, làng không bị thiệt hại lớn.
Dân làng kể lại: Chính nhờ “quan Hiệp về chỉ dẫn” mà họ biết chỗ yếu để cứu đê. Sau sự việc ấy:
Người ta đến miếu thờ đông hơn.- Hương khói quanh năm không dứt.-Những người đi sông nước thường khấn:

“Xin quan Hiệp giữ cho ghe thuyền qua khỏi sóng dữ.”

Dần dần, ông được xem như một vị thần hộ dân vùng sông nước. Giai thoại này phản ánh cách người Nam Bộ nhìn về ông:
Không chỉ là một vị quan khi sống mà còn là linh hồn bảo hộ cộng đồng sau khi mất. Một câu truyền miệng vẫn còn:

Sống giữ đất, thác giữ làng — ấy là quan Hiệp.”

 

THÂN TRỌNG SƠN 

Tháng 4 / 2026

( dựa vào tài liệu tổng hợp)

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác