Ý THỨC VỀ NGUỒN TRONG THƠ TRẦN HUỆ HIỀN

Ngày đăng: 8/04/2026 04:39:36 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Có thể nói thơ Trần Huệ Hiền là sự hòa quyện giữa tâm hồn thi sĩ, nghệ sĩ và sự trầm tư mặc tưởng của một con người từng trải; nhưng là lối từng trải, chiêm nghiệm thấm đẫm tinh thần thiền học, đạo học. Vậy nên khi đọc thơ Trần Huệ Hiền, độc giả như muốn sống chậm… quán chiếu… tỉnh ra trước những vô thường mộng ảo…

NS Trần Huệ Hiền

Ta thử bắt đầu bằng bài thơ “Tưởng”:

“Những bình minh tưởng hồng lên

Những hoàng hôn tưởng bóng mình níu ta

Có dòng sông tưởng trôi xa

Có hồ ao tưởng la đà quẩn quanh

Nắng mùa xuân tưởng lên xanh

Và làn thu đến trơ cành vàng khô

Giấc mơ nào tưởng nên thơ

Tỉnh mộng ra tưởng nắm hờ khói bay

Bao lần gió tưởng theo mây

Bao vì sao tưởng tháng ngày lung linh

Người xuống chợ tưởng vô minh

Ai lên núi tưởng làm thinh hết phiền

Vòng tay cúi mặt tưởng hiền

Ngông nghênh la hét tưởng điên mất rồi

Tưởng là tưởng thế…vui thôi!”

Một bài thơ hay, thường là một bài thơ giải quyết được “nỗi đau” con người bằng ngôn từ suy tưởng; nhiều người hiểu nhưng không mấy ai biết cách giãi bày. Nhà thơ là người thực thi nghĩa vụ đó bằng câu chữ, lột tả đến tận cùng “vấn nạn” thông qua nghệ thuật biểu đạt ý vị, tinh tế đến mức thâm nhập hồn độc giả mà chẳng cần ai mở lối. Rất có thể đây đó, những người nắm bắt tứ thơ về Tưởng để viết Tưởng. Nhưng Tưởng của Trần Huệ Hiền là bài thơ tròn trĩnh và sẽ còn lại với thời gian.

Không ít lần đối diện với chính mình, lòng tự thú… sao người đời cứ “tưởng” mình như kia? Vừa tự hỗ thẹn đã chợt khẩy cười cái ngô nghê ngốc nghếch…Một ý tưởng lóe sáng… một dòng năng lượng sung mãn phụt lên… bao mộng ảo tràn bờ…Nhìn một đứa trẻ đen đúa la lết ngoài đường ăn xin, tưởng số phận đen đủi. Ai hay đứa trẻ ấy ngày sau là một chính khách……

Trước bao vinh nhục, sang hèn, vàng nâu y áo… cứ nhớ đến bài thơ Tưởng của Trần Huệ Hiền thì ta chựng lại. Bớt tưởng! Tưởng là liều thuốc quý!  Vô vàn cái “tưởng” mà có lẽ thi sĩ đã gói ghém, chắt lọc câu chữ một cách tài tình bằng thái độ trầm tư, điềm tĩnh rất mực thâm thúy: “Tưởng là tưởng thế… vui thôi”. Chuyện nghiêm trọng vậy mà câu thơ kết nhẹ như khói sương bảng lảng…

Nếu Tưởng là bài thơ đạt tầm triết, là lời cảnh tỉnh cho những tri kiến vội vàng thì Tưởng cũng là chiếc đòn sóc nhọn hai đầu, nếu kẻ dụng Tưởng một cách phá rối hòng phủ nhận mọi mỹ cảm lành hiền. Hẳn dụng tâm của tác giả trong Tưởng không hề có ý dẫn người đọc đi về hướng ấy. Nếu không Tưởng sẽ thành một thứ triết loạn, vô nghĩa và nguy hại. Bởi biên độ của Tưởng quá rộng, dù người dụng tưởng theo phương nào thì tính khái quát cũng bao trùm cuộc nhân sinh.

“Tiếp tục cuộc chơi” là tuyên ngôn sống của Trần Huệ Hiền. Dù thân phận con người trên cõi đời với bao nỗi thăng trầm, được mất… anh vẫn không cho phép mình buông tay. Một tâm hồn chín chắn không bao giờ rơi vào bi lụy, tuyệt vọng… Bởi họ biết, gia tài lớn nhất vẫn ngự đâu đó bên trong tâm hồn. Có lẽ vì thấm đẫm triết lý Đức Phật: “Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng”. Hay gần hơn, hạnh phúc không chỉ có ở ngoài kia. Chính vì hai điều này mà bao thân phận chịu sự nghiệt ngã, họ vẫn trụ vững trước cuộc đời.

Tôi xin tiếp tục cuộc chơi

Dù vui đã chuyển đến hồi buồn thiu!

Nắm tay đồng điệu rất nhiều

Nghĩa là sẵn đợi một chiều đổi thay”

Để rồi:

“Đắng – cay – rẻ – rúng… xuống ròng / Tôi hoan hỉ nhận cho lòng mở ra!”

Hay

“Đêm trăng thoáng chút mơ màng / Gặp ngày u ám ngỡ ngàng tí thôi!”

Cái nguyên do của “hoan hỉ” và “ngỡ ngàng” đầy triết lý nhân văn mà nhẹ bơn…

Và hai câu kết của bài thơ:

Dù em đã hết thơ ngây / Vẫn xin tiếp tục trọn ngày cuộc chơi!”

Em ở đây có thể là em thật, hay em là cuộc đời – khách thể? Cũng có khi em là quãng đời của chính tác giả đi qua?

Nếu không có sự đồng cảm, đồng điệu, tương quan, tương tri với tâm hồn thi sĩ Bùi Giáng trong những năm tháng Gã Điên Trí Huệ trải lòng với nhân gian, phanh phơi cùng trời đất thì Trần Huệ Hiền đâu chịu nỗi ám ảnh đến vậy, như câu thơ trong bài Tưởng đã nói trên: Ngông nghênh la hét tưởng điên mất rồi. Rõ ràng là một liên tưởng, liên kết giữa đời thực và thơ qua hiện tượng Bùi Giáng. Trong bài thơ khác anh viết để tưởng nhớ Bùi Giáng, Trần Huệ Hiền lột tả được chân dung Họ Bùi. Điều đó quả không dễ: Mắt xanh thắm phố la cà…/ nghêu ngao nhảy múa mà hoa bướm sầu; bao lần trừng mắt trong veo/ một lần mỗi một… chim kêu bỏ cành; độc hành một cõi người ơi!/ bước chân không dấu ngỏ mời xưa sau ( bài Một vần nhân sinh).

Trần Huệ Hiền thành công với thể thơ truyền thống lục bát bằng thủ pháp nghệ thuật tương phản xuyên suốt. Tương phản là sắc thái cuộc sống. Tương phản đôi khi còn là bản chất cuộc đời nữa. Nghệ thuật tương phản được loài người từ cổ chí kim vận dụng triệt để trong mọi loại hình nghệ thuật; từ văn học, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh đến văn hóa, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự… Tương phản giúp đối tượng quan sát dễ dàng nhận diện dụng ý của kẻ tạo ra nó. Tương phản là thủ pháp không mới, nhưng cái tài là người viết khéo vận dụng những cặp từ tương phản một cách nhuần nhị, khiến độc giả vỡ ra…

Cụ thể như trong bài “Tưởng” Trần Huệ Hiền liên tục sử dụng những cặp từ tương phản: bình minh – hoàng hôn, trôi xa – quẩn quanh, lên xanh – trơ cành, mơ – tỉnh, xuống chợ – lên núi (đi tu), vô minh – hết phiền, hiền – ngông nghênh… Hay trong bài “Ngắm mây” cũng thế: Trời trong chuyển xám mây mù/ thoảng ngây thơ đã lu bù cuộc chơi, tay nào úp – ngửa đầy vơi…/ chân nào vấp ngã rã rời tháng năm, trăng xưa ngỡ sáng; trăng rằm/ trăng nay ngỡ khuất; âm thầm gầy hao, tình theo con sóng ra vào/ tội cho ghềnh đá thân đau ngậm ngùi!/ lặng nhìn mây thả buồn vui/ tụ tan sương khói vẽ trời hư không!

Hay trong bài “Thư pháp”:

“Vung tay múa chữ chơi vui

Rắn-mềm-thô-tế-tiến-lùi…ngữ ngôn…

Thấp-cao sương khói chập chờn

Nổi-chìm-ẩn-hiện mây vờn bóng qua.

Họa-tình-thi-trúc-trăng-hoa…

Lung linh vi diệu hài hòa ánh quang

Thuyền từ nương sáng lên ngàn

Ngược xuôi thẳng hướng bến vàng bờ xưa!

Chừng nghe…điệu lạc âm thừa

Lắng lòng ngồi ngắm bốn mùa mây bay.

Thênh thang đêm chuyển sang ngày

Hình câu, bóng chữ rụng đầy như sao!”

Trước bể dâu đối đãi ấy, một người tỉnh táo đầy suy tưởng như Trần Huệ Hiền thì nhất định sẽ bắt gặp dẫu không cần tìm. Suy tưởng bản chất đã là tìm kiếm rồi vậy!

Tôi đi háo hức tìm tôi

Tưởng còn bỗng mất, tưởng vui hóa buồn

Tôi đi từ sớm tinh sương

Trông bình minh gặp hoàng hôn mất rồi

Tôi đi vội vã một thời

Khi vọng ngữ, lúc im hơi lặng thầm

Khi hướng ngoại, lúc nội tâm

Khi hê hả đúng, lúc lầm bầm sai!

Con đường quanh quẹo rồi ngay

Tôi tìm tuổi nọ, phận này, số kia…

Tìm tri kỷ là trăng khuya

Say sưa tan họp, đầm đìa có không.

Tìm biển lặng ở trong lòng

Ngó mông lung, nhìn lòng vòng… cũng thôi

Bao lần từ khóc đến cười

Một lần tôi chợt thấy người là tôi!”

(bài Tôi đi tìm)

Cuối cuộc hành trình tìm kiếm, tác giả chợt thấy người là tôi. Nếu không là cái thấy học đòi, vay mượn, giả mạo, làm dáng phổ biến trong thi ca thì cái thấy ấy chỉ xuất hiện trong tĩnh thức của những con người đầy ắp lòng trắc ẩn. Ở đây, Trần Huệ Hiền là con người trắc ẩn và tĩnh – sáng, nên cái thấy của anh, tôi tin là thấy thật. Cái thấy thật không phải kết thúc cuộc hành trình tìm kiếm mà mở ra, hay khởi đầu cho một lộ trình mới dài hơi hơn thế rất nhiều. Đó là về nguồn!

Chùm thơ 5 bài lục bát của Trần Huệ Hiền chúng tôi vừa giới thiệu có thể vắn tắt bằng cụm từ: dòng ý thức về nguồn. Nhưng có lẽ với non vài mươi bài thơ anh đã viết, đã đăng đâu đó trên những trang báo, tạp chí cùng những ca khúc do anh sáng tác, thì Ý thức về nguồn vẫn thường trực mang tính cốt lõi ở con người nhà thơ Trần Huệ Hiền. Nhận thức ấy luôn động đậy mỗi khi anh chứng kiến sự đời với bao vinh nhục, trôi lăn, ẩn uất, đổ vỡ, đau đớn… Chính tâm thế về nguồn – về nơi tánh không đã cứu chuộc anh; để thơ anh không lụy tình, không rơi tỏm vào thú bi thương… Có lúc tưởng chừng như anh buông tay… nhưng đó không phải là buông xuôi mà là buông cái cần buông; để một tay nắm hờ cuộc hiện sinh không làm sao chối bỏ, còn tay kia đặt lên một nơi chốn chân thật. Ấy là hướng về chơn tâm thường hằng vậy!

TRẦN THU

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác