CHỊ NU
Chị Nu là hàng xóm của tôi ở quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Chị Nu bằng tuổi chị Ba. Hồi đó tôi mười tuổi, chị Ba tôi mười bảy, còn chị Tư mười lăm. Hai người chị của tôi và chị Nu thường chơi với nhau: lúc thì tụm đầu đọc truyện, lúc thì thêu thùa, lúc thì chỉ ngồi kể chuyện vu vơ rồi cười rúc rích. Tôi thì chỉ chạy ra sân chơi ô ăn quan, banh thẻ, nhảy dây với Tép, em gái chị Nu.
Một hôm, chị Ba và chị Tư đi phố về, soạn ra nào len, chỉ thêu, kẹp tóc, giải nón, rồi mấy cái áo lót. Chị Ba gọi tôi: – Ni vô đây, cho em hai cái áo này. Áo lót sát nách màu da, nửa lưng thôi. Mày cũng nên bắt đầu mặc vào trong để che hai cái “chủm cau” đi là vừa. Rồi chị xếp thêm bốn cái, gói riêng: -Của chị Nu với bé Tép. Em qua gọi chị Nu sang lấy giùm chị.
Tôi thắc mắc: – Sao chị Nu lớn bằng lứa chị Ba, chị Tư mà không mặc áo như hai chị, lại mặc giống em với con Tép? Chị Tư cười: -Chị Nu với Tép chỉ cần mặc vậy thôi, vì chị Nu cũng đâu có gì.
Hai chị nhìn nhau cười múm mím. Lúc đó tôi chưa hiểu. Sau này, tôi mới hiểu cái câu “đâu có gì” ấy, và cả cái biệt danh người ta hay trêu chị: “đứa hai lưng”. Tôi ngẫm nghĩ mãi: rõ ràng chị Nu có một lưng thôi, còn đằng trước là bụng chứ! Lớn lên tôi mới hiểu “hai lưng” là đằng trước, đằng sau đều phẳng như nhau. Nhưng mãi sau này nữa, khi đã trưởng thành, nhìn lại cuộc đời chị, tôi nghĩ chị “Không phải hai lưng”, mà theo nghĩa bóng không có lưng nào để dựa.
Hình minh họa, nguồn Net
Học xong tiểu học, chị Nu nghỉ vì thi trượt cấp hai. Chị Ba bảo: Nu học dở, tháng nào cũng đội sổ, chuyện học – với nó là cực hình. Nhất là giờ toán, mặt nó tái mét. Nghỉ xong, nó mập lên thấy rõ. Thôi biết đọc, biết viết, bán hàng với mẹ cũng được.Rồi chị theo mẹ ra chợ Cồn bán bông chuối. Vài năm sau, mẹ chị sang lại cho chị một sạp gia vị khô. Chị Ba tôi học xong phổ thông vào Y khoa, chị Tư vào Sư phạm. Cả hai sau này nhận nhiệm sở xa, lấy chồng xa.
Chị Nu lấy anh Toàn ở xóm trên. Anh Toàn cao ráo, từng học sĩ quan Đà Lạt được một năm thì giải thể. Sau 1975, anh bị đưa đi học tập ở một huyện miền núi cách nhà hai trăm cây số. Một năm sau anh được về, nhưng sức khỏe suy giảm, đi cà nhắc vì bị tai nạn lao động. Ngày cưới, đoàn nhà trai chỉ bưng lễ đi bộ, vì hai nhà cách nhau vài trăm mét.
Về làm dâu, chị Nu sống lầm lũi, đời chị như co lại. Thời bao cấp vốn đã khó. Mẹ chồng chị là bà Cam lại càng khó tính hơn, vẻ mặt luôn cau có. Hàng tuần Bà Cam hay đi chùa. Nhưng cái tâm bà thì… người trong xóm ai cũng biết. Chó mèo nhà hàng xóm sang sân là đuổi chạy tứ tán. Có lần đàn gà con mới nở nhà ông Vệ chạy qua trước cổng, bà Cam vác đá đuổi ném. Mẹ con gà la quang quác, thất thanh, con gà út chạy không kịp bị trúng gãy chân. Bà Vệ hốt hoảng, xót xa nâng con gà con lên, ức quá nói vọng vào:
-Đi chùa lạy Phật trăm ngàn lạy mà ác quá cũng bằng không. Cái tâm mà ác vậy thì lạy Phật vô nghĩa.
Nhà bà Cam có vẻ khá hơn nhà mẹ chị Nu nên cả bà lẫn anh Toàn đều coi khinh chị và gia đình thông gia. Ở gần mà mẹ chị là bà Hiểu hay mấy đứa em chị chưa một lần được mời vào nhà. Mẹ chị nhớ cháu, chỉ dám đi ngang cửa rồi về.
Anh Toàn gia trưởng, lạnh lùng. Khi chị mang bầu gần sinh đi đứng khó khăn, bụng lặc lè, anh cũng chẳng săn sóc, chỉ sai bảo. Mẹ chồng thương con trai, việc gì cũng để con dâu làm. Bữa cơm, chị đứng lên ngồi xuống hết lần này đến lần khác: khi lấy muổng, khi lấy ớt, khi bồng con một tay, tay kia xới cơm cho chồng, cho mẹ chồng.
Chị Nu nghỉ bán hàng ở chợ từ ngày lấy chồng. Ở nhà, chị bày ra bán tạp hóa. Tôi thỉnh thoảng qua mua, thay vì mua dọc đường tôi ghé chị. Mỗi lần chị cúi xuống lấy hàng, cổ áo rộng trễ xuống, tôi thấy ngực chị phẳng lì, chỉ hơi nhô lên như hai mụn ruồi lớn.
Về nhà tôi thắc mắc với mẹ: ngực chị Nu lép vậy sao có sữa cho em bé bú?
Mẹ tôi bảo: – Tùy hình thể mỗi người. Kiểu “nắp niêu” đó con. Có sữa thì nó đầy lên một chút, cai sữa thì nó dẹp xuống, tràn ra sát da. Có người thì trĩu nặng, sinh nhiều con chảy xệ như trái mướp.
Mỗi lần thấy tôi, chị Nu mừng lắm, kéo vào hỏi thăm chị Ba, chị Tư. Hồi đó chưa có điện thoại, tôi là cái cầu nối cho chị nhớ về thời con gái.
Trong nhà, chị lúc nào cũng tất tả: bưng cơm, lấy muỗng, thêm ớt,… Một bữa ăn mà chị đứng lên ngồi xuống không biết bao nhiêu lần. Chồng thì ít khi hỏi han, quen giọng ra lệnh. Có con rồi, chị càng giống người làm hơn là con dâu. Chị lép vế một phần vì nhà nghèo hơn, nhan sắc lại thua anh Toàn. Chị ốm gầy, da ngăm, ít cười. Anh thì rất manly, học hành giỏi giang hơn. Có người nói, anh Toàn sa cơ mới chịu cưới chị Nu, chứ thành công đời nào chịu cưới chị. Chị thấp nhỏ, đứng ngang nách anh. Vậy mà chị cũng sinh cho anh ba đứa con: hai trai, một gái.
Rồi anh Toàn mở tiệm bán đồ điện nước, thuê nhà mặt tiền cách nhà hai cây số. Anh bắt đầu đổ đốn, “hoa lá cành” quên đường về bỏ bê gia đình khi quen chị Luyến, một thợ thêu ren làm mẹ đơn thân, mới hai mươi bảy tuổi, da trắng, dáng cân đối. Hai người thường đi thể dục, hẹn hò cà phê mỗi sáng.
Chuyện đến tai chị Nu. Bé Sả (con gái đầu) học lớp tám. Nó rất khôn và biết thương mẹ. Nó bảo mẹ, để đó con có cách đi rình nghe sự tình ra sao đã.
Thế là sáng sớm nó lẻn vào quán ba nó, chui vào ngồi núp sau mấy thùng carton đậy lên trên, phía sau vách phòng, nghe điện thoại của ba. Mỗi sáng, nó nghe ba tâm tình với cô Luyến. Nó về kể lại cho mẹ rồi bàn cách xử lý.
Có bữa nó đứng giữa nhà dỏng dạc tuyên bố: -Nếu ba không chấm dứt chuyện với cô Luyến, con không để yên đâu. Cô giáo con dạy rồi, hôn nhân chỉ một vợ một chồng.
Còn mẹ chồng chị, bênh con trai: – Đàn ông, chuyện thê thiếp cũng thường thôi. Có gì mà mày làm quá lên vậy? Xấu chàng hổ ai! Chị Nu im lặng. Nhưng bên chị đã có đồng minh là con gái của chị.
Hai mẹ con tìm gặp người kia, nói gì không ai rõ. Chỉ biết sau đó, chị Luyến biến mất. Tiệm điện nước vẫn còn, nhưng không còn bóng dáng người đàn bà trẻ.
Nhà chị Nu bớt ồn ào. Mà thực ra cũng chỉ là giọng của bà nội nó với ba nó, thỉnh thoảng nó mới lên tiếng bệnh vực mẹ nó. Con bé đã hiểu chuyện. Chị Nu vẫn vậy, nhẫn nhịn, buồn buồn. Nhưng có gì đó khác đi. Như một cái cây chịu gió lâu ngày, không bật gốc, chỉ cứng lại.
Tôi lớn lên, rời xóm. Mỗi lần về, vẫn ghé mua vài thứ lặt vặt, chỉ để nhìn chị một chút. Chị vẫn cười khi thấy tôi. Nụ cười mỏng, hiền, có gì đó như đã chấp nhận hết thảy. Có những người đàn bà trong đời, không ồn ào, không nổi bật. Họ sống như một cái bóng, chịu đựng như một thói quen. Nhưng chính họ lại là người quan trọng, chăm lo gia đình và giữ an yên cho mái nhà!
Chị Nu là một người như vậy.
Saigon, ngày 25/3/2026
Hoàng Thị Bích Hà
