THĂM MIẾU CÔNG THẦN TỈNH VĨNH LONG

Ngày đăng: 9/03/2026 07:51:02 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Vài ngày sau rằm tháng giêng năm nay (Bính Ngọ), tôi có dịp đến thăm Miếu Công Thần ở thành phố Vĩnh Long gần sông Cổ Chiên. Thật ra trước khi đi, tìm hiểu trên mạng tôi đã biết miếu được xây dựng lần đầu năm 1836 dưới triều vua Minh Mạng. Đến năm 1867 miếu bị người Pháp phá bỏ, rồi năm 1918 được người dân vận động xây dựng lại… từ đó mang tên là Công Thần Linh Miếu hay Miếu Công Thần.

Sau khi đi xem miếu tôi có một ít ý kiến xin phép ghi ra đây:

Cổng tam quan có ghi “Công Thần Miếu” bằng cả chữ Việt và Hán, có nghĩa là miếu thờ những công thần là những người có công với vua với nước, không phải thờ một “ông bà thánh thần” riêng biệt nào. Cạnh đó là một bảng công nhận “Di tích lịch sử văn hóa cấp quóc gia” năm 1998.

Với suy nghĩ như vậy tôi đinh ninh là sẽ thấy một cái Miếu, nhưng chỉ cần nhìn tổng thể kiến trúc tôi lại thấy giống như một cái Đình. Chỉ có điểm hơi khác biệt là ngoài cùng gần cổng có một bệ xây cao, tôi nghĩ trước kia là Đàn xã tắc của đình nhưng lại không thấy cái miếu Thần nông nhỏ và bức bình phong vẽ rồng vẽ cọp trước đàn như thường thấy. Thay vào đó, xây chồng lên nền đàn là một khối gạch tô xi-măng hình tháp, giống kiểu ngày nay thường dùng để ghi biển tên, hay bia tưởng niệm một vị trí đáng nhớ nào đó. Hai bên khối hình tháp này là hai khẩu súng thần công trông rất oai mà không đình miếu nào có (sự thật là theo những ghi nhận lịch sử, ban đầu miếu được xây dựng trong một đồn binh bên bờ sông).

Hai bên Đàn xã tắc còn có hai miếu nhỏ đối diện nhau, thờ các nhiên thần, như Sơn Quân…. (giống như ở các đình).

Nhờ ông từ giữ đình mở cửa hông để vào bên trong, tôi thấy kiến trúc chính là những nhà vuông mở rộng ra bốn bên gồm võ ca, võ quy, sân khấu (trang trí hơi màu mè) phục vụ cho những buổi cúng đình. (Nghe ông từ nói là chiều hôm đó sẽ có hát bội tại đây vì hôm ấy cũng là một dịp lễ cúng đình và đặc biệt có một đoàn khách du lịch đến thăm miếu).

Chính điện cũng là nhà tứ trụ có nhiều hoành phi, bao lam, lỗ bộ và đôi hạc. Trên long trụ và vài cây cột khá to có ốp những câu đối nhắc đến công trận của những công thần đối với vua với nước. Giữa chính điện là bàn Hội đồng. Những hoành phi câu đối viết bằng chữ Hán còn khá rõ và chất lượng gỗ các khung thờ hay bao lam còn tốt, chưa thấy hư mục (cho thấy tuổi đời chưa lâu). Tôi nghĩ trong quá trình xây cất lại và tu sửa sau đó, nhiều hiện vật, đồ thờ của các đình khác được đem về miếu này (nghe nói từ ngôi đình cạnh sông bị sạt lở). Đó chắc cũng là nguyên nhân khiến cái tên ban đầu là miếu nay hình dáng lại giống cái đình?!

Sát vách trong cũng đúng là nơi đặt bàn thờ Thần Thành Hoàng. Tôi hơi lạ vì khác với cái vẻ nghiêm trang cổ kính chung quanh, chữ Thần rất to trên bàn thờ lại được tô phết khá vụng về, khó đọc! Tuy nhiên hai bên bàn thờ Thần là hai bàn thờ Tả ban và Hữu ban lại vẫn đúng cách như thông lệ.

Hai bên vách chính điện lại không thấy các bàn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tiên Sư… theo tín ngưỡng truyền thống của những lưu dân Việt; chỉ có hai bàn thờ Bạch Mã Thái Giám, Ngũ Hành Ngũ Tổ, Phúc Đức Chính Thần, Đông Trù Tư Mệnh. Chắc là ngày xưa phải có nhiều người Hoa sống tại vùng này?

Chính điện trông giống Đình thờ Thần Thành Hoàng (và các thần phối tự) mà tại sao gọi là Miếu Công Thần, một cái tên bao phủ nhiều huyền thoại, có nhiều giải thích nhưng dường như cho tới nay chưa giải thích nào đủ sức thuyết phục?! Đó là do có sự hiện diện một khung hình khá to chụp thu nhỏ 85 tấm sắc phong của vua (hình chụp thu nhỏ lại quá nhỏ không xem được gì)! Miếu có danh dự gìn giữ quá nhiều các sắc phong của vua ban cho các công thần nên gọi tên là Miếu Công Thần cũng đáng thôi! Theo thông tin trên mạng các sắc phong này được cấp dưới triều vua Thiệu Trị và Tự Đức. Vua phong thần từ thượng đẳng đến trung đẳng và hạ đẳng thần cho những vị có công với đất nước, có hiển linh với người dân (cả nhân thần lẫn nhiên thần) từ triều Lê đến các đời chúa Nguyễn rồi vua triều Nguyễn. Nhưng sở dĩ có những tấm hình chụp sắc phong thu nhỏ này là bởi vì các bản chính đã bị “biến mất” từ năm 1843?!

Chuyện một cái miếu nhỏ mà có quá nhiều sắc phong thì cũng lạ! Trong số mấy trăm cái đình hiện nay ở miền Nam, có đình được một sắc phong cho vị thần làng, có đình được nhiều cái, nhưng có rất nhiều đình không có cái nào! Vì thế trong nhiều đám cúng đình, đình phải tổ chức đi “rước sắc” (có nghĩa là đi “mượn sắc” từ đình khác đem về làm lễ). Nhưng truyền thuyết dân gian và nhiều tài liệu cũ đã nói đến việc cái miếu này đã từng giữ nhiều sắc phong… thì đành phải tin như vậy!

Đến chuyện các sắc phong bị “biến mất” thì tôi cũng tin. Nhưng chuyện bị biến mất cả loạt vào năm 1843 thì khó tin. Tôi nghĩ tệ nạn ăn cắp sắc thần để bán cho các đình không có sắc phong, cộng với lòng tham của những người có trách nhiệm gìn giữ sắc lại đem bán chúng đi, cộng với sở thích sưu tầm cổ vật, sẵn sàng trả giá cao của một số người… đã làm các sắc phong này “biến mất” (nhưng biến mất từ từ) là điều có thể tin được! Cũng nên biết kỹ thuật chụp hình thu nhỏ hay photocopy thu nhỏ không thể có từ năm 1843?! Cũng nên biết muốn có hình phụ hay bản copy phụ thì phải còn bản chính để chụp để photo chứ?! Do đó tôi nghĩ chắc có một số sắc phong vẫn còn “biến mất” cho đến thời gian khá gần đây thay vì “mất hết” vào năm 1843?!

Tuy tôn trọng những ghi nhận đã qua của người chuyên môn nhưng tôi cảm thấy cũng nên trình bày ý kiến của mình. Về nguồn gốc cái miếu, theo tôi nghĩ nó được xây cất lần đầu từ rất lâu rồi, lúc lưu dân miền Trung vào tới đây hơn 300 năm trước (trước cả thời Gia Long tẩu quốc). Tuy lúc đó số dân còn thưa thớt, chưa hình thành xóm làng, nhưng họ có nhu cầu tâm linh nên cùng nhau cất một cái miếu nhỏ thờ một nhân thần hay nhiên thần nào đó hiển linh tại địa phương. Khi số dân đông hơn đủ để lập làng, họ làm đơn gửi triều đình xin thành lập làng và xin sắc phong cho vị thần đình làng.

Có thể vào năm Tự Đức ngũ niên 1852, vua ký hàng loạt sắc phong cho các đình làng miền Nam… là lý do khiến miếu này được danh dự giữ nhiều sắc phong (trước khi phân phối chúng đi các địa phương khác). Do đó miếu được người dân gọi tên là Miếu Công Thần. Rồi ông bà công thần nào được vua ban là Thần Thành Hoàng của địa phương nào sẽ “ngồi” ở đình làng địa phương đó! (Chữ “Thần” viết bằng chữ Hán trong chữ Công Thần khác với chữ Thần trong Thần Thành Hoàng vì có nghĩa khác nhau). Lúc này nhu cầu về kiến trúc phải là một cái Đình để thờ thần nên khi những cái đình gần đấy có nguy cơ bị nước sông sạt lở đất thì người dân di dời xác cái đình và đồ tự khí của nó về miếu?!

Tóm lại có ba vấn đề cần được đặt ra:

-Một là tên gọi Miếu nhưng kiến trúc là Đình (bây giờ lại hơi pha tạp) thì lịch sử nơi đó cho thấy gọi Miếu (Miếu Công Thần) như từ xưa đã gọi thì cũng được.

-Hai là không nên chưng bày các phó bản tờ sắc phong thu nhỏ để chứng tỏ miếu đã là nơi có danh dự giữ sắc phong! Phần lịch sử đó được ghi nhận qua truyền thuyết và tài liệu cũ như thế thì cũng đủ rồi! Các công thần được nhà vua cấp sắc phong thần để người dân thờ tại các cơ sở tín ngưỡng dân gian (miếu, đình) là sự thật lịch sử.

-Ba là nên viết lại cho rõ chữ Thần trên bàn thờ thần với nghĩa là vị Thần Thành Hoàng, vì dù sao chính điện nơi đó vẫn là chính điện của một cái Đình. Chắc chắn tại nơi đó ngày xưa, theo tín ngưỡng dân gian, có lúc người dân cũng thờ cúng một thần làng nào đó cùng nhiều thần phối tự (dầu là nhân thần hay nhiên thần).

Tháng 3/ 2026

KHƯƠNG TRONG SỬU

H4

h5

h6

h7

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác