HAI MƯƠI NĂM CỦA HOÀNG HƯNG
Hoàng Hưng CHS TPH xa quê hơn 20 năm, nhưng lúc nào cũng nớ về quê nhà Cầu Mới. Tết đến, nổi nhớ càng . thêm day dứt. Hãy nghe anh kể lại nổi lòng bằng giọng thơ gần như thơ văn xuôi: tỉ mỉ, ngọt ngào và xúc động…
HAI MƯƠI NĂM
Thêm một cái Tết nữa, xa quê.
Nhắp ngụm cà phê đắng,
hồi tưởng lại: Năm “không sáu”, về thăm chốn cũ.
Thăm lại dòng sông, nước chảy lững lờ
Dòng sông Măng Thít,
dòng sông xưa
Đúng là dòng sông xưa,
nay sao êm lạ,
Tiếng mái chèo năm xưa đâu?
Xuồng ghe tấp nập,
nay vắng bóng.
Chỉ những giề lục bình,
lặng lẽ trôi.
Nhớ tiếng mái chèo,
từng nghe trong giấc ngủ.
Tiếng mái chèo năm xưa, xưa lắm
Ngày đó tôi còn rất nhỏ,
chưa cắp sách đến trường,
chưa đọc ê a.
Ba chèo xuồng về Hòa Bình, quê ngoại
Thăm dì, cậu mợ,
thăm lại họ hàng, lâu ngày không găp
Xuôi sông Măng về hướng Tam Bình
Đến Mương Khai,
ba rẽ trái vào vào con sông nhỏ

Ngồi trong lòng xuồng,
mắt vô tư nhìn cảnh lạ hai bên bờ.
Đàn trâu nhởn nhơ nhai cỏ,
ngẫng mắt nhìn, chiếc xuồng lướt tới.
Xa xa, dăm cò trắng,
đứng trên lưng trâu, dáng thanh bình
Ba vẫn chèo , dáng khoan thai.
Xuồng đang lướt nhẹ, ba ngưng chèo.
Tôi nhìn ra phía trước,
thật lạ mắt, mới thấy lần đầu.
Anh trai khoảng mười hai,
đứng trên lưng con trâu cổ.
Trâu nhẹ nhàng rẽ nước lội sang sông.
Cả đàn trâu tiếp nối lội theo sau
Chèo đến con rạch nhỏ, ba rẽ vào.
Chèo một khoảng, nước cạn dần,
ba gở chèo làm sào chống
Đến đoạn con rạch,
trơ đáy không còn nước.
Ba bước xuống,
đẩy chiếc xuồng,
chầm chậm êm êm.
Tôi thích chí mà không dám nói.
Cứ mơ màng,
như ngồi trên chiếc tàu cau,
ai đó kéo.
Cười khanh khách,
tuổi hồn nhiên.
Cơn gió thoảng, xua tan dòng ký ức.
Nhìn lại căn nhà xinh xinh của nội.
Căn nhà xinh nhất xóm thời đó,
Ba tôi xây cho bà nội dưỡng già.
Nhà nội tôi,
nhìn ra dòng sông Măng Thít,
Nép mình bên con rạch,
tôi thường bơi thuở nhỏ.
Con rạch, ông Năm thường hay chặn lại,
Bằng hàng đăng khi con nước đầy.
Khi nước rút, cá tôm chui vào cái đó.
Ông biểu tôi, vào nhà lấy rổ,
Ông nghiên đó vào lòng rổ,
nhiều cá tôm, cho nội kho tiêu

Trở về nhìn lại con rach xưa
Xưa thương nó,
giờ đây giân.
Con rạch ăn hiếp nhà nội tôi,
con rạch lớn thêm,
mảnh đất nhà nội tôi hẹp lại.
Mất cây dành dành,
tôi xẻ trái lấy ruột vàng, trộn xác dừa tưởng là xôi.
Mất cây lộc vừng,
đến mùa hoa nở đỏ hồng
Lấp lánh trên mặt nước sóng gợn lăng tăng.
Căn nhà nội cũ hơn xưa, vẫn còn đó.
Giàn hoa giấy tôi trồng trước ngõ
Đã đi đâu.
Đi tự bao giờ.
Nội tôi đâu.
Không chờ tôi về.
Tôi gọi “Nội ơi, con về thăm nội”,
như những lần đi học xa,
như những lần khoác chiếc áo nhà binh,
trở về thăm nội.
Ngày đến Bidong,
người tôi nhớ nhất
là bà nội. Nội của tôi.
Nội của cả cuộc đời.
Ngày tôi về vắng nội,
lòng tôi buồn lắm.
Nỗi buồn khó than vãn với ai.
Tôi đi bộ vài trăm bước
về căn nhà của ba má.
Con đường đất ngày xưa
giờ vẫn là con đường đất.
Cây cầu đúc năm xưa
nay bên vở bên còn.
Mấy mươi năm dài,
bao nhiêu người dẫm lên thân nó.
Cầu còn đứng,
vẫn còn may.
Về đến căn nhà,
tổ ấm, tôi sống thuở nhỏ
Xưa đã cũ,
Nay cũ hơn xưa
vẫn đứng im.
Bàn ăn vẫn nằm giữa nhà
như một nhân chứng câm lặng.
Những chiếc ghế
vẫn giữ nguyên vị trí
như chờ người ngồi lại.
Ba má tôi đâu.
Anh em tôi đâu.
Những tiếng cười,
tiếng gọi thân thương.
Trong bữa ăn
anh em tôi ăn uống khẽ khàng,
tránh tiếng chén đũa va nhau,
như lời ba dạy.
Nay anh em tôi
đã bay xa như đàn chim vở tổ,
tản lạc về bốn hướng trời nào.
Không còn ngồi ăn chung,
mâm cơm thịt cá đủ đầy.
Một ngày nọ,
đứa em họ cũng trôi qua đất Mỹ.
Tình cờ xin được số phone tôi.
Em gọi thăm,
nói “Em của anh nè”.
Năm lên tám,
em thường ghé căn nhà ngói cũ
nhìn ra ngôi chợ ồn ào.
Ăn bữa cơm nhà anh,
em tưởng chừng như ăn cỗ.
Ba má anh rộng rãi với đàn con.
Em muốn ở mãi nhà anh,
không muốn về,
để ăn cỗ,
vì đời em thiếu thốn.
Nghe em nói,
tôi bàng hoàng tỉnh giấc.
Đổi bữa cơm ngon
bằng đôi tay chai sần của má.
Lúc đó nào tôi biết
nào tôi hay.
Giờ thương má quá.
Tình thương đã muộn.
Má tôi đâu.
Má ở tầng nào.
Đứa con nhỏ thỏ thẻ với tôi khi đến Mỹ:
“Con không biết giờ bà nội ở đâu.”
Con không biết.
Cha nào có biết.
Nội của con ở đâu.
Má của cha ở phương trời nào.
Cảnh Tây Thiên.
Qua giây phút nhớ về quá khứ,
tôi quay nhìn lại chiếc bàn xưa.
Ba ngồi chỗ này,
má ngồi chỗ kia,
tôi ngồi đúng chỗ của mình
mỗi ngày
không ai dặn,
mà thành thói quen
như hơi thở.
Ba ăn chậm,
nhai kỹ từng miếng
như sợ làm rơi mất
một chút hương vị của đời.
Ba kể chuyện ông nội,
kể chuyện những mùa nước nổi,
kể chuyện thời hàn vi
ba cùng ông nội
chèo chiếc thuyền to
chở đầy gạo trắng
từ Cà Mau về cầu Ông Lãnh xa xôi.
Đến Mỹ Tho mới được thở phào,
được tàu Tây dòng về Chợ Lớn.
Rồi một hôm,
ba nhìn tôi, nhắc nhẹ:
“Sao nóng tánh vậy con,
sao không cười khì
thay vì nổi nóng.”
Tôi bước ra trước,
đứng giữa căn nhà cũ.
Nhìn khung cửa sổ.
Cửa sổ của năm nào
vẫn còn đây.
Cái cửa sổ có những song sắt
tôi thường chuyền đứa em út
giữa hai song sắt ngang.
Chuyền em xuyên qua cửa sổ.
Em cười thích chí,muốn chuyền thêm.
Tôi trở về,
mà không còn ai để trở về cùng.
Chỉ có dòng sông,
căn nhà,
và những ký ức
ngồi xuống cạnh tôi
trong buổi chiều Măng Thít
buồn đến não lòng.
HOÀNG HƯNG

