NHÀ THƠ Ý NHI; CÔ ĐƠN NHƯNG KHÔNG HIU QUẠNH

Mùa thu 1984, lần đầu Dạ Ngân tôi ra Hà Nội. Văn chương chưa có gì nhưng tình ái thì nổi cộm, nói theo ngôn ngữ hiện hành. Trong số các đàn chị mà tôi ái mộ, Xuân Quỳnh tiếng tăm toàn diện không thèm liếc con nhỏ nhà quê Cần Thơ một cái; Lê Minh Khuê kín kẽ nói câu nào thâm trầm câu ấy; Dương Thu Hương hào sảng và đốp chát “Ê, thằng Thân kia, yêu đương cho tử tế vào, tao đem cu ngói tháng mười với cái mớ này để chúng mày có sức mà hành sự đấy!”. (Cu ngói thì tôi biết qua một truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân còn mớ hột vịt lộn kia nữa, cả hai đều rất đắt đỏ so với túi tiền của văn nghệ sĩ cả nước khi đó). Riêng Ý Nhi, tôi được Văn Nghệ Quân Đội xếp chung một phòng trong chuyến thăm Đại học Thái Nguyên, có cả Nguyễn Minh Châu và một số anh khác nữa trong đoàn.

Nhà Văn Dạ Ngân
Chị và em. Cùng gốc vĩ tuyến bờ Nam khi đất nước cắt chia. Người có cha là trí thức, đứa là con liệt sĩ, cả hai ông đều dấn thân theo nghĩa đẹp nhất của từ nầy. Và con đường văn thơ trần ai cùng những nỗi niềm sâu kín riêng tư được chị em tôi hàn huyên tự nhiên đến mức tôi vẫn còn nhớ từng câu nặng nhọc của Ý Nhi khi đó. Người Đàn Bà Ngồi Đan – giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam tháng 1 năm 1984 ấy – khiến chị bị/được tôi quan sát kỹ một cách khác thường. Những câu thơ trúc trắc kỳ lạ theo cách đọc thơ quen lối của thời ấy; những người phụ nữ và mớ ống len cũng lần đầu tôi thấy ở khắp nơi của Hà Nội nghèo đói với mùa đông đang đến; lá vàng thu, ánh nắng màu mật ong, những con rươi mà anh Thân ao ước… khiến Ý Nhi như một món quà bỗng dưng tôi được tặng cho chuyến thủ đô lần đầu, để chính tôi lý giải và định nghĩa về một Hà Nội bí ẩn, lạ lùng, thẳm sâu, phức tạp.
GS Nguyễn Lộc- phu quân nhà thơ Ý Nhi
Tháng 12 năm 1985, Hội nghị những người Viết văn trẻ toàn quốc, con bé “nhà quê tỉnh lẻ” biết thế nào là lạnh thấu xương. Và người-đàn-bà-ngồi-đan đã réo tôi đến ăn với nhau tại nhà. Không nhớ hôm ấy có anh Nguyễn Lộc không, chỉ nhớ cái cách nhà thơ Ý Nhi đi chợ và kéo tôi theo. Chị cầm một cái rá, (loại rổ nan dày để đãi gạo đãi nếp) trong khi miền Nam của tôi hầu như ai cũng có cái giỏ xinh xinh bằng tre hoặc bằng nhựa để đi chợ cùng với sống áo tươm tất. Một cái rá, eo ơi, một cái rá! Chợ cóc gần nhà, chị lẫn vào đám các bà công nhân viên chức đi chợ bằng tiền xoay xở được, nhưng chị có vẻ không giống ai bởi cốt cách và chiều cao vượt trội của mình. Sao tôi không ngừng thắc mắc về cái rá và cách chị dùng nó giữa đám đông lồ lộ cơ hàn? Vậy nên không nhớ hôm ấy ăn gì, chỉ nhớ lượt về, cái rá bên nách của chị, trên cùng là rau thơm hành ớt…Rồi tôi đã tự lý giải cho mình khi nhìn kỹ gian bếp tối thui của nhà văn Nguyên Ngọc, với thứ nhà vệ sinh công cộng ở “làng tá” số 8 Lý Nam Đế ấy, với hố xí thùng phố Tây Sơn của nhà văn Nguyên Bình bạn chí cốt của anh Thân tôi; ở họ, những người tôi đơn cử và kính trọng ấy là sự kiên cường đến mức thản nhiên, sự thản nhiên của kiên cường khiến tôi luôn băn khoăn và lấy làm lạ, không dứt. “Hà Nội của tôi” cho dù sau này tôi có 15 năm hộ khẩu thủ đô, đó chính là sự tinh khôi của cảm xúc cứ trồi lên là chiếm lĩnh trên cái núi ký ức về nơi ấy, tình yêu, sự sắc nhọn, va chạm và nhận về, mãi mãi.
Khi vợ chồng tôi về hẳn Sài Gòn sau 2005, Ý Nhi là một nhân vật để nhắc và để nhớ, cho dù ít gặp nhau. Lúc đó giáo sư Nguyễn Lộc đã ngồi xe lăn, tôi kể với anh Thân, thời tôi còn là “con nhà văn nhà quê tỉnh lẻ”, anh Lộc được Đại học Cần Thơ thỉnh giảng và bạn bè tôi ở Khoa Ngữ văn đã đưa anh ra chỗ tôi hai lần, cùng ngồi chiếu lác chỗ sân thượng ngắm trăng lên, ăn và nhắc những hình ảnh Hà Hội thập niên 1980. Trong hàng giáo sư tôi thân thiết ở Sài Gòn, những Lê Đình Kỵ, Hoàng Như Mai, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Hữu Tá…anh Nguyễn Lộc có gương mặt và cốt cách mực thước, nhuần nhị đặc biệt, khi tôi được ngắm anh gần nhất rõ nhất và có lẽ, cũng là khi anh ngắm tôi – cô nàng yêu đương tai tiếng và dữ dội là thế nào. Chúng tôi không nói ra nhưng tình cảm lặng lẽ ấy, có cả tình thương, bởi giữa chúng tôi là Ý Nhi – một người đàn bà xứng đáng để chúng tôi yêu quý và ghi nhận.
Nhớ Đại hội nhà văn Việt Nam toàn thể năm 1989, mười ngày “rung chuyển thế giới” – nói theo cách nói của ngài Trần Trọng Tân, trưởng Ban Văn hóa – Tư tưởng trung ương khi đó, tôi được xếp chung phòng với nhà thơ Ý Nhi, nơi hội viên cả nước đổ về và được Chính phủ bao ăn bao ở. Không khí Đổi Mới tràn ngập phố phường, người dân vây thành vòng đứng chờ để xem và chạm tay vào các nhà văn nhà thơ mà họ ký thác, kỳ vọng. Lời ăn tiếng nói của chúng tôi như được tháo xích, không hề có giữ gìn nhưng ai cũng biết tư cách của mình đang được soi bằng lăng kính của Nhân dân. Đó là những giây phút thăng hoa của cả một cộng đồng có sức mạnh chữ nghĩa với đám đông hăm hở chuyển đổi, thay đổi, vận hội, vận nước.
Ý Nhi được vây quanh không chỉ vì thơ hay nhất, cách tân hiện đại nhất. Mà nếu không có cốt cách khác thường thì sẽ không có những câu những nhịp và những con chữ ấy. Phòng của hai chị em bất đắc dĩ biến thành “trụ sở Ban nhân sự đại hội”, mà nhân sự BCH Hội nhà văn khi ấy quan trọng theo quan niệm của chúng tôi, rằng sau Trần Độ, sau Nguyên Ngọc, sau hô hào Cởi trói của TBT Nguyễn Văn Linh thì sẽ là sự chấn hưng xứng đáng với nước nhà, non sông, gấm vóc. Có những giây phút ấy trong đời, thật không bõ để đứng bên nhau và nhiều lúc vỗ rát cả tay ở hội trường Ba Đình để hoan hô ai đó hoặc là để “mời” ai đó bước xuống đừng lải nhải những điều cũ rích nữa. Bài Vè Đại hội của Nguyễn Duy đã nói lên tất cả, (duy chỉ có hai câu về chúng tôi mà anh ấy lọc ra vì thấy nó “ăn chơi” quá, không hợp với không khí trang trọng lúc ấy, hai câu rằng “Sướng nhất là Nguyễn Quang Thân/Đi đâu cũng có Dạ Ngân bên mình”). Những thời khắc trăng mật với Chính sự, Lòng dân và Đổi mới. Sau đó thì sao rồi, hẳn văn giới và độc giả và dân chúng đã biết.
Tôi thì nhớ khoảnh khắc riêng tư sau đó mà có thể Ý Nhi không biết và không nhớ. Đó là một buổi chiều khô ráo cuối thu 1989 ấy, Ý Nhi ngồi trên một chiếc ghế đọc sách ở phòng khách nhà cô bạn Phương Quỳnh. Chị ngồi rất thẳng, chân bắt tréo tự nhiên, chìm đắm trong suy tư nên không hay cô em tỉnh lẻ đáo để đang quan sát chị. Một dáng ngồi vương giả, quý phái và kiêu hãnh, có gì đó rất gần với Akhmatova. Rất nhiều lần tôi tấm tắc với anh Thân khoảnh khắc Ý Nhi một mình ấy và chúng tôi biết, là Ý Nhi vốn dĩ, hiện thời và sẽ mãi, như vậy.
“Lòng đã nên nhẫn nại/Sau muôn nghìn đổi thay”. Ý Nhi 1989 và gần 40 năm sau trong những câu thơ của Nàng. Một lần tôi đến ngôi biệt thự ở Gò Vấp để thăm anh Nguyễn Lộc sau khi anh Thân tôi mất. Các phòng đẹp và thơm, người đàn bà 20 năm chăm chồng đã thành một phản xạ nhẫn nại đặc biệt, chị vuốt má nựng anh âu yếm một cách điềm đạm rất Ý Nhi. Tôi cho rằng, một quãng dài đau ốm cuối đời may mắn của anh ấy là có người vợ biết tổ chức, biết chăm sóc và biết trọn vẹn, người vợ có tên là cô học trò Ý Nhi – nhà thơ Ý Nhi – điểm tựa Ý Nhi của nhiều người trong văn giới!
Chị vẫn viết, văn xuôi nhiều hơn làm thơ. Càng lúc càng thấy người sao thì tuổi già của họ sẽ như vậy. An yên, khoan hòa mà vẫn kham nhẫn, kiên cường. Nhiều người nghĩ chị sẽ ra sao khi con cháu ở xa, một mình trong cái cõi ấy. Không, tôi tin, Ý Nhi vẫn vậy, cô đơn nhưng không hề hiu quạnh. Và những con chữ sẽ đồng hành với chị, có thể, những con chữ ấy sẽ lợi hại hơn xưa.
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người. Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và kính mắt. Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người. Có thể là hình ảnh về hoa và văn bản
DẠ NGÂN
27/10/2026

Nhà văn Dạ Ngân đến viếng thầy Nguyễn Lộc
