SÀI GÒN – HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG
Ngày đăng: 8/08/2026 09:01:40 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)
Hồi trước 30/4/1975, năm tôi 17 tuổi (1973), lần đầu tiên được chị tôi dắt lên Sài Gòn.
Ký ức đầu tiên của tôi về Sài Gòn là những con đường rợp mát hàng me. Chị ghé Trường Đại học Luật, rồi ra chợ Bến Thành, sau đó hai chị em leo lên xe lam ra Xa Cảng để trở về Vĩnh Long.
Trên chuyến xe lam hôm ấy có một nhóm người đánh bài cào, cùng với mấy người cò mồi ngồi bên cạnh, họ dùa bài, chung tiền rồi rủ tụi tôi chơi. Hai chị em tôi chỉ ngồi nhìn, chẳng dám tham gia. Vậy mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ.

Tôi cũng nhớ những chuyến xe đò Nhan Nhựt. Hiệp Thành chạy tuyến Sài Gòn – Vĩnh Long. Có những chuyến về trong hồi hộp. Khoảng bốn giờ chiều, xe phải đi qua những đoạn đường mà tiếng súng từ đâu đó bắn chéo chéo, rồi có những nơi bị đắp mô, phải chờ đợi khá lâu mới đi qua được. Trung Lương, Cái Bè… những địa danh ấy ngày đó nghe sao mà xa xôi và bất an đến vậy.
Và từ chuyến đi Sài Gòn đầu tiên ấy, trong cô gái tỉnh lẻ 17 tuổi bắt đầu nhen lên một giấc mơ: một ngày nào đó mình sẽ lên Sài Gòn học.
Một giấc mơ nhỏ bé, bình thường thôi, nhưng khi ấy với tôi lại xa vời biết bao.
Đậu Tú Tài xong, Má cứ năn nỉ tôi vào học Trường Sư phạm Vĩnh Long. Má nhìn cuộc sống của cô giáo Đạo ở kế bên nhà mà thấy quá “ok”: tháng nào lãnh lương cũng mua vàng, mua hột xoàn để dành.
Tôi khóc lóc, không muốn, nhưng rồi cũng nghe lời Má.
Học Sư phạm Vĩnh Long được một năm thì đất nước thay đổi sau 1975. Tôi trở thành một đứa con “sinh thiếu tháng” của một ước mơ còn dang dở, rồi trở về Trà Ôn, Xuân Hiệp, vùng giải phóng.
Tôi ở nhà dân. Đi dạy phải ra bờ sông đón ghe của học trò để quá giang đến trường. Có khi xuồng vừa cập bến, tôi lên bờ bị trợt chưn té ngập vào vũng bùn, chịu trận với quần ướt đầy sình bùn vào lớp dạy. Lúc ấy lớp học như một túp lá trống toang toác, giống một cái chuồng trâu! Nhà này cách nhà kia là một con sông rộng mênh mông, làm gì có đường bộ mà đi. Những ngày ấy, chuyện đi dạy cũng là một cuộc phiêu lưu nho nhỏ của cô giáo trẻ.
Đến năm 1979, giấc mơ Sài Gòn lại nhen nhóm. Tôi vào học Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3, ở nội trú suốt hai năm.
Sài Gòn lúc ấy đã khác với Sài Gòn trong ký ức tuổi 17 của tôi. Ban đêm, thỉnh thoảng nghe tiếng kêu cứu ngoài đường. Sáng ra lại nghe kể người đi đường bị cướp giật. Chuyện xảy ra nhiều đến mức gần như thành chuyện thường ngày.
Có lần tôi đi xe buýt ra Xa Cảng. Trên xe có hai ba người đàn bà cứ chen lấn, ép sát vào tôi. Tôi chẳng biết gì, đến khi xuống xe mới phát hiện cái giỏ bị rạch tan hoác. Mất một cái áo đẹp mà tôi rất thích. Tiền đâu có nhiều mà mất!
Nhưng những chuyện ấy không làm tôi bớt yêu Sài Gòn.
Thứ bảy, chủ nhật, tôi thường một mình lang thang hết con đường này đến con đường khác. Tôi thích nhất là khu Chợ Lớn, rồi Bến Thành, Bến Bạch Đằng… Không có ai đi cùng cũng chẳng sao. Sài Gòn khi ấy đủ rộng để một cô gái tỉnh lẻ có thể một mình đi tìm những điều mới mẻ.
Tốt nghiệp xong, có một bà dì hứa sẽ gửi tôi lên Sài Gòn để đi dạy. Vậy mà chẳng hiểu sao tôi lại quá cạn nghĩ, trở về tỉnh sống với Má. Có lẽ là tôi không có duyên với Sài Gòn.
Sài Gòn những năm 1980 vẫn còn khá yên ắng, chưa ồn ào và xô bồ như bây giờ. Đặc biệt, những năm về quê ăn Tết, nếu trở lại Sài Gòn sớm, tôi thường thấy thành phố vắng hoe. Đường phố rộng thênh thang, hàng quán đóng cửa, người thưa thớt. Một Sài Gòn rất khác.
Nhưng cũng chính sự vắng vẻ ấy lại trở thành một nét riêng trong ký ức của tôi về thành phố này.
Đến năm 2001, tôi lại trở về Sài Gòn để học đại học chuyên tu. Suốt bốn năm, mỗi năm tôi lên hai lần, mỗi lần ở khoảng hai tháng.
Lúc này Sài Gòn đã thay da đổi thịt. Thành phố rộn ràng hơn, náo nhiệt hơn, đổi mới rất nhiều. Nhưng dù đi đi về về nhiều lần như vậy, tôi vẫn không trở thành người Sài Gòn.
#Tôi thích Sài Gòn vì nơi đó có quá nhiều hoạt động phong phú. Muốn học gì cũng có chỗ học, muốn sinh hoạt gì cũng có nơi để tham gia. Một thành phố lớn luôn mở ra nhiều cơ hội để con người học hỏi, nâng cao trình độ và mở rộng thế giới của mình.
Nhưng Sài Gòn hôm nay cũng khiến tôi có chút e ngại.
Cuộc sống quá phức tạp, tội phạm và lừa gạt khiến người ta luôn phải cảnh giác. Một khi ai cũng sợ người xấu, người ta cũng khó còn đủ lòng tin để giúp một người xa lạ. Ngày xưa, xin quá giang một đoạn đường là chuyện khá dễ dàng. Bây giờ, thử hỏi còn mấy ai dám cho một người không quen biết lên xe mình?
Thành phố thay đổi, con người cũng thay đổi theo thời gian. Có người cho rằng những người từng sống ở Sài Gòn trước 30/4/1975 mới là “người Sài Gòn chính hiệu”. Sau ngày ấy, nhiều người rời đi, cũng có rất nhiều người từ những miền khác đến sinh sống. Sài Gòn vì thế trở thành một thành phố của nhiều lớp người, nhiều số phận và nhiều câu chuyện khác nhau.
Nhưng với tôi, “người Sài Gòn” đôi khi không chỉ là một nơi sinh ra hay một tờ giấy hộ khẩu. Đó còn là một ký ức, là một giọng nói, là một cách sống.
Là một bóng cây trên con đường cũ. Là một thành phố từng nằm trong giấc mơ của một cô gái tỉnh lẻ.
Sài Gòn – Hòn ngọc Viễn Đông, một danh xưng mỹ miều mà bây giờ tôi ít còn nghe nhắc đến. Nhưng trong tôi, Sài Gòn ấy vẫn còn nguyên.
Vẫn là câu hát:
“Trả lại em yêu, khung trời Đại học
Con đường Duy Tân, cây dài bóng mát
Chỉ vài câu hát thôi mà có thể mở ra cả một khoảng trời tuổi trẻ. Tôi chưa từng có duyên sống lâu dài ở Sài Gòn. Nhưng thỉnh thoảng vẫn thích lên đó vài bữa, xem một vở kịch ở Phú Nhuận, ngồi café bệt trước Nhà thờ Đức Bà, xem một bộ phim hay, đi lang thang giữa những con đường đông đúc…
Rồi lại rời Sài Gòn, trở về Vĩnh Long. Trở về với những con đường yên ả, những buổi chiều êm đềm và nhịp sống chậm rãi hơn.
Sài Gòn hôm nay ồn ào hơn, nhiều cạm bẫy hơn, nhiều bất an hơn, nhưng trong tôi vẫn yêu một Sài Gòn quyến rũ như tuổi mười bảy thuở nào!
Có lẽ, đến một tuổi nào đó, người ta không còn cần phải sở hữu một thành phố.
Chỉ cần thỉnh thoảng được trở về, đi qua những nơi từng in dấu chân mình, rồi lặng lẽ rời đi với một chút bâng khuâng trong lòng…Thế cũng đã là một niềm vui.
Một trong những niềm vui dịu dàng của những năm tháng cuối đời.
HỒ AN NHIÊN
