Thương hình bóng cũ!

Ngày đăng: 28/02/2016 01:45:08 Chiều/ ý kiến phản hồi (8)

Hồi còn nhỏ, ba má tôi thường bắt ngủ trưa. Ba đứa nằm sắp lớp trên giường mà con mắt mở trao tráo. Con nít thích chơi hơn thích ngủ. Nhưng sợ bị đòn thì phải vậy chứ biết sao hơn? Thằng em nhỏ nhứt được cưng, nằm võng. Trong cái trưa hè của làng quê Đạo Ngạn, Mỹ Tho… gió hây hây thổi, má tôi ru: Gió đưa bụi chuối sau hè; anh mê vợ bé bỏ bè con thơ, con thơ tay ẵm tay bồng, tay nào xách nước tay nào vo cơm.” Nhưng ba tôi lại ru con, không bằng ca dao mà bằng bài ca vọng cổ:“Sầu Vương Biên Ải” Út Trà Ôn phát trên đài phát thanh Pháp Á: … “Thâu canh hồn ngơ ngẩn nhìn bóng trăng khuya lặng lẽ giữa đêm… trường…”

út trà ôn

                                                 Út Trà Ôn

Những năm 50, miền Nam thanh bình, trù phú, thạnh trị. Đêm không giới nghiêm. Nhà tôi có cái ra-dô chạy đèn, lúc đó chưa có ra-dô tran-sit-to như sau này. Thời đó có cái ra-dô như vậy là “oách” lắm rồi.

Tối Thứ Bảy bà con lối xóm: bà dì, bà cô, bà thiếm xách theo giỏ trầu đến nằm, ngồi trên bộ ngựa trong nhà, vừa nhai trầu bỏm bẻm vừa thả hồn theo câu xàng xê, câu vọng cổ của tuồng cải lương trực tiếp truyền thanh trên đài phát thanh Sài Gòn.

Ba tôi là người nghệ sĩ mần văn. Năm 1957, ông Trần Tấn Quốc, chủ báo Tiếng Dội, phụ trách trương kịch trường đầu tiên của làng báo Việt Nam, khuyến khích, thân phụ tôi viết kịch trường, phê bình những vở cải lương cùng với Thanh Tâm, bút hiệu của ông Trần Tấn Quốc, Phong Vân, Nguyễn Ang Ca và Việt Định Phương.

Cách phê bình của thân phụ tôi hơi khác, hơi lạ. Thay vì nhận xét về tuồng tích, phê phán khen chê soạn giả và diễn viên thì ba tôi lại lượm lặt những cảm xúc chân thành của bà con khán giả: bà Năm, cô Bảy, chị Hai, em Ba gom lại thành bài viết… Ông đóng vai kép độc như Việt Hùng chẳng hạn mà khán giả kêu ông bằng “thằng”, chửi ông tắt bếp thì ông đã thành công xuất sắc trong vai trò kép độc.

 

ngoc nuoi viet hung                                  H Ngọc Nuôi và Việt Hùng

 

Còn “Sầu Nữ Út Bạch Lan’ xuống một câu vọng cổ mà ai nấy đều thút thít khóc thì xứng danh với “Đệ Nhứt Đào Thương”. Những mỹ danh này đều do ký giả kịch trường đặt cho họ.

ut bach lan                                                   .Út Bạch Lan

 

Cách viết đó, nửa thế kỷ về trước, là mới. Còn bây giờ là xưa rồi. Bây giờ họ “comment” bài viết của mình đôi khi chửi tác giả như tát nước… thôi hết biết đường nào mà kể…?!

Tôi được ba dẫn theo đi coi cải lương. Ba mặc áo dài tay, gài nút măng-sét, thắt cà vạt. Tôi, áo trắng bỏ vô quần sọt, mang xăng-đan. Ba nói: mình ăn mặc chỉnh tề để tôn trọng người nghệ sĩ. Khi trình diễn, họ ăn mặc đàng hoàng, y trang, cảnh trí, mình là khán giả, tại sao không?

Theo ba, tôi vừa hào hứng vừa e dè khi vào hậu trường, nơi có bàn thờ tổ khói hương nghi ngút. Có bàn trang điểm, làm mặt của kép và đào. Có ban nhạc cổ đang so dây, nắn phím. Đàn kìm giữ nhịp song lang, cò, guitar phím lõm, sáo, tranh, bầu, trống. Còn dàn nhạc Tây thì ngồi gần hàng ghế danh dự chứ không ngồi sau cánh gà như dàn cổ nhạc…

Khi trình diễn thì có người đứng sau lưng phông màn nhắc tuồng và người kéo micro theo cái ròng rọc cho nghệ sĩ hát.

Ký giả kịch trường được ngồi ghế thượng hạng, thường là sát bên với soạn giả, còn gọi là thầy tuồng.

Xưa chỉ có soạn giả viết tuồng rồi phân vai cho nghệ sĩ. Chứ không có đạo diễn như bây giờ.

Năm 1957, đoàn Thúy Nga Phước Trọng về Mỹ Tho, diễn phúc khảo tuồng hương xa: “Khi Hoa Anh Đào Nở” của Hà Triều Hoa Phượng tại rạp Vĩnh Lợi đường Lý Công Uẩn của thầy Năm Tú, ba tôi là ký giả kịch trường được mời đi xem.

Cha con tôi ngồi sát bên hai bác soạn giả Hà Triều Hoa Phượng.

Kép chánh đêm diễn là Thành Được, năm ấy ông mới vừa mười chín tuổi, mặc áo kiểu hiệp sĩ Lã Sanh Môn, dắt gươm trên lưng.

Còn đào chánh là “Kiều nữ Bích Sơn” mặc kimono đi từng bước ngắn trên đôi dép cao của Nhựt.

thanh được                                                  Thành Được

Đoạn cuối vở tuồng còn ngâm hai câu thơ: “Cổng chùa đã khép lại rồi…” Dàn nhạc tây thì chơi “Ò e Robe đánh đu, Tạc dăng nhảy dù, Zoro bắn súng”. Và màn nhung buông xuống, em trở lại đời thường, trả lại phấn son.

Ba tôi được hai bác soạn giả Hà Triều Hoa Phượng mời đi ăn cháo khuya cùng anh em nghệ sĩ. Cái tình văn nghệ thuở ấy sao mà nồng ấm như tô cháo trắng tép rang có chan nước cốt dừa của ngày năm cũ.

Vài hôm sau, bài viết của ba lên trương kịch trường của nhựt báo Tiếng Dội, tạo dư luận háo hức chờ đoàn hát nhập thủ đô Sài Gòn, rạp Nguyễn văn Hảo ra mắt bà con mộ điệu.

Sau “Khi Hoa Anh Đào Nở” thành công vang dội, Hà Triều Hoa Phượng còn thêm “Đợi Anh Mùa Lá Rụng, Cầu Sương Thiếp Phụ Chàng” .

Năm 61, tuồng hương xa đã xa hương, Hà Triều Hoa Phượng chuyển qua tuồng xã hội mà vở đầu tiên là “Nửa Đời Hương Phấn”.

Hương, con nhà gia giáo ở vùng Lái Thiêu, bị một tên nhạc sĩ sở khanh dụ dỗ đến mang thai. Sợ dư luận đàm tiếu, cô phải lên Sài Gòn trốn tránh. Số phận cay nghiệt đã đưa đẩy Hương vào con đường bán phấn buôn hương, rồi tình cờ gặp được Tùng. Vì danh giá gia đình không cho phép Tùng lấy một người con gái bán phấn buôn hương. Cang, anh Tùng phản đối và bày kế chia rẽ, khiến Tùng cứ ngỡ Hương phản bội mình nên đã bỏ đi lấy vợ. Nhưng trái ngang, đau lòng, vợ Tùng, Dịu, là em ruột của Hương. Hương đã vào chùa quy y để quên đi mối tình dang dở! Thân phụ tôi nói: “Dịu chứ không phải Diệu do Ngọc Nuôi đóng. Vì Hương, Út Bạch Lan tên “The” trước khi thành gái giang hồ. Tên mùi vị quê nhà, mà The cho là “quê” nên đổi tên là “Hương”. Hương, tên đẹp, nhưng là Hương của “Nửa Đời Hương Phấn”.

Cách chọn tên của soạn giả thiệt thâm trầm! “Nửa Đời Hương Phấn”, phảng phất Marguerite Gautier trong Trà Hoa Nữ và Lan Điệp trước cổng chùa, đã lấy đi nước mắt biết bao nhiêu khán giả khóc thương cho một mảnh hồng nhan bạc phận!

Đó là chuyện ba mươi năm về trước, khi tôi còn thơ dại… theo ba.

Năm 90, từ Adelaide, Nam Úc… thằng Quân, em tôi gởi giấy bảo lãnh về cho thân phụ tôi đi. Ba không muốn. Vì ba già rồi, vì không muốn má tôi nằm lại một mình, không ai nhang khói. Quê nhà ai muốn bỏ mà đi.?!

Tôi từ Cần Thơ “bay” về, nói “bay” nghĩa là về thiệt lẹ chứ Cần Thơ Mỹ Tho giàu có gì mà đi máy bay. Mà có máy bay đâu mà đi… Tôi thuyết phục ba tôi: “Em con lãnh ba đi, chắc nó có ở hai bên rồi, nên biết sướng khổ thế nào, nó không lãnh ba qua đó mà chịu khổ đâu. Đi khó về dễ! Ba cứ đi, nếu khổ quá thì về…” Ba tôi thấy tôi có lý.

Tiệc tiễn hành, ba nói: “Bên đó chắc không có cải lương đâu con?!” Em gái tôi tìm được cuộn cát sét “Nửa Đời Hương Phấn” cho ba mang theo…

Cả nhà nghe bài Phụng Hoàng với Út Bạch Lan vai Hương, Thành Được vai Tùng và Ngọc Nuôi vai Dịu. “Dù em có thành hôn với ai đi nữa, thì chị cũng ráng về với… em; để mừng ngày em xuất giá. Cho vui lòng ba má chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con… Còn dượng ba đây- là một thanh niên- có học thức lại đàng hoàng. Chị vô cùng sung sướng; thấy em có một tấm chồng đúng như lòng chị đã ước mong!

Cha con tôi nghe hết mấy câu Phượng Hoàng này thì lại nhớ về hình bóng một thời thơ mộng cũ.  Thời ba làm ký giả kịch trường dắt con thơ dại theo coi hát. Ba nói: “Mai, ba đi, mang theo hình ảnh quê nhà, hình ảnh má con và kỷ niệm nầy. Không biết ba còn có dịp trở về quê cũ nữa hay không?”

Ba tôi suốt một đời lao khổ vì con, chỉ hưởng được năm năm ở chốn thiên đường rồi vướng vào bạo bịnh, chiến đấu với bệnh tật ba năm nữa rồi thua cuộc. Trước khi đi vào hôn mê, ba trăng trối: “Tụi con mang tro than của ba về quê cũ. Ba muốn về cạnh má con! Sao đành bỏ má con một mình cho được…!”

“Nhà thương thí miền Tây con đâu ngờ lần cuối, ráng chiều cháy chân mây, ngày cuối cùng hấp hối, quê nhà! trái tim ba! ba nhìn con trăng trối…” “Mộ má nhìn ra lộ Đông Dương, như trông như ngóng người thương trở về; người thương nay đã trở về, dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh: ‘chừng nào xe lửa Mỹ bung vành; tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em’

Ba tôi mất hơn mười năm lẻ, anh em tôi vẫn chưa thực hiện được lời trăng trối tha thiết của phụ thân.

Vậy là hằng năm tới ngày giỗ ba, em tôi bay từ Adelaide lên, cả nhà đoàn tụ nhắc về kỷ niệm xưa của gia đình.

Phượng, em gái tôi, mang cuộn cát sét kỷ vật “Nửa Đời Hương Phấn” ra hát lại.

Thời gian hủy hoại dần tất cả. Cuộn băng nhão đi, chỉ còn nghe được câu đầu: “Dù em có thành hôn với ai đi nữa, thì chị cũng ráng về với ….. em!”

Và nước mắt!

đoàn xuân thu.

melbourne

 

Có 8 bình luận về Thương hình bóng cũ!

  1. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Lớp Phụng Hoàng do Hương, Tùng, Dịu hát

    trong Nửa đời hương phấn trở thành kinh điển,

    quen thuộc với khán giả mê cải lương những năm

    1960 – 1970 và cho đến sau này.

    Tui cũng hay tự hát cho mình nghe lớp này khi

    rỗi rảnh : Dù em thành hôn với ai đi nữa, thì …

     

     

     

    • Hy vọng vào một ngày đẹp trời gần đây, bên tách cà phê ấm áp…chúng ta sẽ được thưởng thức tiếng hát ngọt ngào của Nguyễn thị Hạnh…để hồi tưởng những cảm xúc tuyệt vời vào thời điểm hơn 50 năm qua…

  2. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Chuyện của tác giả kể nghe buồn
    như lớp Phượng Hoàng trên.
    (viết chưa xong thì ấn nút phản hồi)

  3. Hoành Châu nói:

    Những nghệ sĩ  được POST ảnh trên đây  đã  từng một thời vang bóng ,,  ai ai cũng ái mộ và trân trọng,,

  4. vothilai nói:

    Bài viết thật buồn,gợi nhớ lại một thuở huy hoàng của cải lương ,ngày xưa tôi cũng rất thích nghe cải lương các nghệ sĩ thời ấy ca thật truyền cảm nghe hoài mà không chán.Mỗi nghệ sĩ có giọng ca riêng không ai giống ai,bây giờ thỉnh thoảng nghe lại mà thấm thía cả tâm hồn.

  5. My Nguyen nói:

    Dù không phải là người nghiện cải lương nhưng ít ra cũng có những vở cải lương hay khiến ta nhớ mãi, đã đi vào lòng người nửa thế kỷ qua. Những vở tuồng tác giả kể trong bài viết của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng là những tác phẩm để đời. Cảm ơn tác giả đã khơi gợi lại một thời vàng son của cải lương và những nghệ sĩ tên tuổi được mọi người yêu mến.

  6. Cám ơn tác giả Đoàn Xuân Thu đã cho độc giả trang nhà một thoáng nhìn vào thế giới cải lương ngày xưa dưới lăng kính của một cậu bé có cơ hội cùng cha được làm quen với những tên tuổi, đào, kép nổi danh thời bấy giờ. Những kỷ niệm thời thơ ấu bên cạnh cha mẹ là những kỷ niệm khó quên mà khi đã đến một lứa tuổi nào đó thường trở lại trong tâm trí để mà nhớ, để mà thương, để mà luyến tiếc…nhất là khi song thân đã khuất bóng. Hy vọng còn được đọc nhiều bài viết hay và cảm động của tác giả Đoàn Xuân Thu.

  7. Đặng Văn Đời nói:

    Cám ơn Thu dã nhắc và cho thưởng thức bài viết thật hay của Bạn.Tuồng Nửa đời hương phấn đã ăn sâu vào tâm hồn dân miền Tây mãi đến tận bây giờ, ngay cả mình cũng thích bài Phượng Hoàng đó! Tôi chơi thơ, tân nhạc,cổ nhạc nhịp 32 hát rất chuẩn nhờ ăn dầm ở nhà Lệ Thuỷ lúc còn sinh viên khoa học. Nhà Lệ Thuỷ mở lớp dạy hát thường gặp Văn Giỏi, Đoàn Huy…..sau này em LT là Thanh Liêm cũng trở thành nhạc sĩ đờn cho đofan Phước Chung.Thỉnh thoảng rãnh đi theo Lệ Thuỷ hát ở Vũng Tàu, rạp Cẩm Vân? Gặp Minh Phụng, Chí Tâm ,Thanh Kim Huệ….đoàn Đệ nhất Kim Chung. Mình thích đi du hí thôi chớ không mặn cải lương vì phong trào tân nhạc Saigon lúc ấy rất sôi động .Thế nên mình biết toàn cảnh gánh cải lương từ sân khấu đến hậu trường, từng chỗ trang điểm , kéo màn, nhắc tuồng….nên Thu viết rất đúng y chang. Năm đám cưới Lệ Thuỷ và chồng là Đình Trúc, mình có dự. Bởi vậy lâu lâu gặp cải lương hát cũng vui như chuyến về Vĩnh Long với các bạn lênh đênh sông nước mình chơi vai Ông Cò quận 9 vở Tuyệt tình ca…….

     

Trả lời vothilai Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác