Nhà văn Sơn Nam và hành trình “phong sương mấy độ…”
N
“Ra đi gặp vịt thì lùa/ Gặp duyên có kết/ Thấy đình chùa vào…chép chép biên biên.”
Đó là phương châm sống của một nhà văn đặc biệt, người đã sống hết mình cho vùng đất Nam bộ, được mệnh danh là Ông già đi bộ – Nhà văn Sơn Nam. Ông còn là người nâng tầm văn hóa xứ mình, từ một khúc hồn quê sông nước với con người chân chất hồn hậu, “còn mang mang ký ức khẩn hoang” thành một dạng thức văn minh – Văn minh miệt vườn.
Phong sương mấy độ…
Xin được bắt đầu câu chuyện về cuộc đời của Nhà văn Sơn Nam bằng 2 câu thơ được khắc trên một phiến đá trong Khu lưu niệm nhà văn bên dòng kênh Bảo Định, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, nay là tỉnh Đồng Tháp:
“Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.
Hai câu thơ cũng là đề tựa của một trong những sáng tác nổi tiếng của nhà văn Sơn Nam – “Hương rừng Cà Mau”, được ông viết ra như một sự tổng kết về cuộc đời “phong sương” của mình – Một cuộc đời luôn mang trong lòng tình yêu bao la, cùng nỗi nhớ đau đáu với đất quê Nam bộ.
Nhà văn Sơn Nam tên khai sinh là Phạm Minh Tày, sinh ngày 11/12/1926, tại vùng Miệt Thứ, nay thuộc tỉnh An Giang. Quê của Nhà văn còn được biết đến qua câu hát “từ ngày xa đất Tiền Giang, em theo anh về xứ Cạnh Đền”. Gia đình ông thuộc những lưu dân đến vùng Miệt Thứ lập nghiệp vào những năm đầu thế kỷ 20.
Bà Đào Thúy Hằng, con gái nhà văn Sơn Nam kể, “nội tôi hay nói là từ nhỏ, ba tôi ông đã có sở thích quan sát và ghi chép những gì diễn ra quanh mình, trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là tập quán ăn ở, sinh hoạt của người dân. Ông thường vào rừng, ra bưng để xem cá thia thia, xem chim chiều về tổ…”. Có lẽ từ tính cách đó hình thành trong ông khiếu viết văn, khảo sát nghiên cứu. Nhờ đi và ghi chép nhiều nên ông có được kiến thức sâu rộng về phong tục, tập quán, con người Nam bộ. Ông tự nhận ngoài việc phải đọc thường xuyên, ông còn được trời phú cho đôi chân vạn dặm, “đôi chân đi hoài không biết mỏi”. Biệt danh “ông già Nam bộ” cũng nhờ phong sương vậy mà đi vào lòng người.
Về bút danh Sơn Nam, bà Đào Thúy Hằng nói với tôi, bà đọc được trong hồi ký của Nhà văn là hồi nhỏ, khi mới sinh ra thì bà nội không có sữa bú, nên nhà văn được gửi đi bú nhờ (dân gian gọi là bú thép) một người phụ nữ Khmer, nên sau này, Nhà văn lấy bút danh là Sơn Nam. Chữ Sơn là một họ của người Khmer, với ý hàm ơn người cho mình bú thép. Còn nghĩa nào khác không ? Tôi hỏi, bà Đào Thúy Hằng cho biết, chưa từng nghe nhà văn Sơn Nam nói về nghĩa nào khác !
Bà Hằng kể thêm rằng bà có đọc một bài phỏng vấn trên báo, phóng viên hỏi Nhà văn: “- Ông lấy bút danh Sơn Nam, vậy ông ví mình như ngọn núi ở miền Nam có phải không ?”. Và Nhà văn trả lời: “Núi miền Nam đâu có cao”.
Dù lý giải theo cách nào thì cũng đều phù hợp với cá tính của nhà văn Sơn Nam, khiêm tốn, thật thà. Từ năm 1955, ông gắn bó với vùng đất Sài Gòn – Chợ Lớn. Ông viết văn, viết báo, và trở thành nhà khảo cứu Nam bộ uy tín từ lúc đó. Những sáng tác của ông đều mang hơi thở của cuộc sống thời khẩn hoang, đậm chất thiên nhiên, văn hóa và con người Nam bộ.
Người phát lộ “Văn minh miệt vườn”
Trong cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nhà văn viết: “Đem việc khẩn hoang làm đề tài là “ăn khách” vì nó còn luẩn quẩn trong ký ức của đa số người Nam bộ”. Mô tả việc khẩn hoang để khơi dậy ký ức một thời đấu tranh với thú dữ, thích nghi với thiên nhiên là đề tài mà ông dành phần lớn thời gian để viết, các tác phẩm đều đã khẳng định giá trị sâu sắc như nhận định của ông về đề tài này.
Nâng văn hóa nông thôn Nam bộ còn dư âm thời khẩn hoang lên thành văn minh, đó được đánh giá là sự sáng tạo đặc sắc của ông già Nam bộ Sơn Nam. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nam bộ Nguyễn Nhất Thống (Đồng Tháp) chia sẻ: “Văn hóa nông thôn, văn hóa đồng quê được người dân Nam bộ tiếp thu, chuyển hóa trong quá trình mở đất. Nên khi phát triển ở Nam bộ, đặc biệt là những làng quê, nó có nét riêng, đôc đáo. Sơn Nam đã nhận ra điều đó và có lẽ chính ông chứ không phải ai khác đã tổng hợp các khái niệm như miệt quê, miệt vườn, miệt thứ và nâng lên thành Văn minh miệt vườn. Từ khái niệm đó, Sơn Nam là tác giả của cụm từ cố định Văn minh miệt vườn, và bây giờ nó là tài sản chung của văn hóa dân tộc”
“Hương rừng Cà Mau” là tác phẩm nổi tiếng, được nhiều độc giả mến chuộng. Tác phẩm được hình thành từ những năm nhà văn Sơn Nam xê dịch khắp vùng đồng bằng châu thổ trên đôi chân vạn dặm của mình. Ở đó bàng bạt những câu chuyện về nhân sinh, hào khí, tình cảm, lối sống của những con người mang khát vọng chinh phục vùng đất mới nhưng trong lòng luôn đau đáu nỗi niềm “nắng mưa miền cố thổ”.
Trong nhiều tác phẩm của mình, Nhà văn Sơn Nam đã đưa vào đó những hình ảnh chân phương, gần gũi với đời sống. Những bầy trâu nhởn nhơ ăn cỏ đã rất đỗi quen thuộc trong những tác phẩm của ông. Mùa nước nổi đã tạo nên nét đặc trưng riêng biệt và độc đáo của vùng Châu thổ Cửu Long. Khi nước nổi tràn đồng, cỏ không mọc được nên người dân đưa trâu đi nơi khác để vừa bảo vệ trâu, vừa cho chúng có cỏ để ăn, đợi khi nước rút sẽ đưa trâu trở về, và dân gian gọi là len trâu. Len trong tiếng nói của người Khmer Nam bộ hiểu là “tự do”. Tác phẩm “Mùa len trâu”, trích trong tập truyện Hương rừng Cà Mau được chuyển thể thành phim với những hình ảnh vô cùng độc đáo, mô tả sống động đời sống người dân Nam bộ.
Nhà văn Sơn Nam kiên nhẫn với đề tài về con người và vùng đất Nam bộ thời khẩn hoang. Phương ngữ Nam bộ được ông nâng lên thành một dạng thức văn hóa nên những tác phẩm của ông vừa khoa học vừa rất đại chúng. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nam bộ Nguyễn Nhất Thống so sánh giữa Sơn Nam và Hồ Biểu Chánh, nếu như Hồ Biểu Chánh thường dùng những từ ngữ như “đó đa”, “dữ lắm đó đa” làm nên phong cách riêng, thì Sơn Nam có cách dùng khác, ví dụ như “quá trời quá đất”, hay “trời ơi đất hỡi”. Những từ ngữ mà Sơn Nam dùng lột tả tính cách con người, mà những từ đó thì bậc tri thức hay người bình dân cũng đều hiểu được.
Theo chân người tình
Là người nghiên cứu sâu về văn hóa Nam bộ, nên những dự án về văn hóa, hay những bộ phim có liên quan tới văn hóa Nam bộ, ông cũng được mời tham gia. Năm 1985, Nhà văn Sơn Nam được mời làm cố vấn cho đoàn làm phim Người tình, của đạo diễn Jean Jacque Annaud. Phim lấy bối cảnh Nam bộ những năm 1930, kể về chuyện tình có thật giữa công tử Huỳnh Thủy Lê và cô gái người Pháp Marguerite Duras. Nhà văn Sơn Nam đã có những chỉ dẫn cặn kẽ về văn hóa Nam bộ để bộ phim thành công. Ông nói với đạo diễn Jean Jacque Annaud rằng“ông hãy làm một bộ phim mà hàng trăm năm sau, người ta khi nói về vùng đất Nam bộ là sẽ nghĩ ngay tới phim của ông”. Và thực tế như vậy, đạo diễn Jean Jacque Annaud đã đưa hình ảnh một Nam bộ những năm 1920, với cánh đồng rộng lớn, sông Tiền lặng lẽ trôi, phà Mỹ Thuận với cột khối màu đen và những chiếc xe đò chở khách từ miền lục tỉnh về Sài Gòn – Chợ Lớn, trên xe có người, có gà, có vịt… Những cụ già ăn trầu, và xức dầu gió xanh…
Giờ đây, “di sản” của Người tình còn lại là tiểu thuyết và phim Người tình (L’Amant) cùng ngôi nhà có sân hiên màu lam ở số 255A, Sa Đéc, Đồng Tháp. Hàng năm có hàng ngàn du khách tìm đến tham quan ngôi nhà. Đáng chú ý có không ít du khách là người Pháp. Nhiều người thừa nhận, họ tò mò muốn biết về nơi sinh sống, mức giàu có và vẻ hào hoa của nhân vật chính trong tiểu thuyết Người tình (L’Amant) của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras. Tiểu thuyết trứ danh được chuyển thể thành phim vào những năm cuối của thế kỷ 20 và đã tạo nên một làn sóng điện ảnh lúc bấy giờ. Chính câu chuyện tình hấp dẫn ấy đã đưa nhiều du khách Pháp viễn du theo chân người tình đến khám phá vẻ đẹp mê hồn của miền Châu thổ.
Ngôi nhà lưu niệm yên bình bên dòng kênh Bảo Định
Nhà văn Sơn Nam mất ngày 13 tháng 8 năm 2008, kết thúc một hành trình “phong sương mấy độ”… Sau khi nhà văn qua đời, con gái của nhà văn, bà Đào Thúy Hằng, cùng chồng là ông Trần Đức Nghị đã xây Nhà lưu niệm Sơn Nam bên dòng kênh Bảo Định. Phía trước là phù điêu bằng đá tạc chân dung nhà văn do họa sĩ Nguyễn Sánh thực hiện, và một phiến đá chạm thủ bút nhà văn bài thơ “Hương rừng Cà Mau” ghi dấu ấn sâu sắc vào lòng người. Cùng với đó là đồi cỏ, có trồng các cây đặc trưng của Nam bộ như sú, vẹt, tre, bần và dừa nước… Đặc biệt là phiên bản thu nhỏ Hòn Phụ tử, một thắng cảnh của quê hương Kiên Giang của ông.
Nhà lưu niệm nhà văn Sơn Nam được thiết kế mô phỏng theo lối kiến trúc truyền thống Nam bộ, mái lợp ngói. Gian chính ngôi nhà là chiếc bàn thờ giản dị cùng chiếc tủ trưng bày hình ký họa chân dung nhà văn của nhiều họa sĩ nổi tiếng. Nhà lưu niệm là nơi lưu giữ khá đầy đủ di sản tinh thần quý giá của nhà văn, trở thành điểm đến của rất nhiều nhà nghiên cứu và người yêu thích văn học. Đây cũng là địa chỉ văn hóa hết sức tự hào của người dân Nam Bộ.
Ông Trần Đức Nghị kể, có nhiều cháu học sinh sau giờ học đã đến Nhà lưu niệm chơi, các cháu khám phá từ trước ra sau, đọc các bài thơ, bài báo. Rồi có cháu còn viết vào sổ lưu niệm rằng ước muốn sâu này sẽ thành nhà văn để có được nhà lưu niệm như của ông Sơn Nam.
Và ở một góc nhìn nhân văn khác, Nhà lưu niệm trở thành nơi nuôi dưỡng ước mơ, ươm mầm cho những hạt giống tài năng đang lớn dần trong lòng những trẻ nhỏ ở đây. Phong cách Sơn Nam, tài năng Sơn Nam đã cổ vũ rất nhiều người.
Hơn 80 năm tại thế, di sản mà nhà văn Sơn Nam để lại là kho kiến thức phong phú về vùng đất và con người Nam bộ. Một di sản của nền “Văn minh miệt vườn” được phát lộ qua những trang viết đậm đà phong vị phương Nam. Cả cuộc đời “phong sương”, để rồi cuối cùng, ông chọn nằm lại ở Bình Dương, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, làm “hạt bụi”, nhưng là hạt bụi với bao nỗi niềm “nghiêng mình nhớ đất quê”.
Phan Trường Sơn
Chú thích ảnh:
Nha luu niem Son Nam (1): Nhiều cặp đôi chọn Nhà lưu niệm Nhà văn Sơn Nam làm nơi chụp ảnh cưới, lưu giữ kỷ niệm đẹp trong đời gắn với Ngôi nhà duyên dáng bên bên dòng kênh Bảo Định hiền hòa.
Nha luu niem Son Nam (2): Không gian thờ có chân dung Nhà văn Sơn Nam trong Nhà lưu niệm Nhà văn. Một không giam mở, ai cũng có thể ghé thăm, thắp cho nhà văn nén nhang như là tri kỷ !

