Năm mươi bài  NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT bất hủ ( BÀI 1)

Ngày đăng: 6/10/2026 09:04:40 Sáng/ ý kiến phản hồi (0)
 
                          Inline image
                      熟讀唐詩三百首, Thục độc Đường thi tam bá thủ,
                      不會吟詩也會吟。 Bất hội ngâm thi dã hội ngâm !
      Có nghĩa :
                      Thơ Đường đọc thuộc ba trăm bài,
                      Chẳng biết ngâm thơ cũng biết ngay !
      Đó là hai câu thơ trong bài tựa của quyển “Đường Thi Tam Bá Thủ 唐詩三百首” đầu tiên được Hành Đường Thoái Sĩ TÔN THÙ 蘅塘退士孫洙 cùng bà vợ kế là TỪ LAN ANH 徐蘭英 cùng nhau biên soạn vào những năm Càn Long của đời nhà Thanh, để làm sách giáo khoa dạy cho các con em và sĩ tử mới học làm thơ. Ý của 2 câu thơ trên là : Nếu đọc thuộc được cả ba trăm bài thơ Đường trong quyển sách nầy, thì dù không biết làm thơ cũng sẽ biết ngâm nga thơ thẩn ! Có nghĩa là…
      Cứ đọc tới đọc lui cho thuộc các bài thơ trước đi; trong qúa trình đọc thơ và ngâm nga tới lui đó, thì hồn thơ sẽ nảy sinh, ý thơ sẽ manh nha, cảm hứng sẽ tự nhiên tìm về, tâm hồn sẽ bay bổng, và nàng thơ từ thiên cổ sẽ trổi dậy trong ta để cho ta cảm nhận được hết những thi vị của cuộc sống chung quanh một cách nên thơ đáng yêu hơn, và cũng sẽ cảm thấy cuộc sống nầy đáng yêu đáng sống hơn lên… Quyển “Đường Thi Tam Bá Thủ 唐詩三百首” nầy còn lưu truyền cho đến hiện nay và hiện diện trên khắp thế giới nơi nào có người Hoa, và cũng là sách gối đầu giường cho tất cả những ai thích ngâm nga, yêu mến và say mê đối với thơ  Đường như là… tôi vậy !
      Nào, ta sẽ bắt đầu bằng những bài thơ Ngũ Ngôn Tuyệt Cú nhé, và bây giờ là tháng Mười, là mùa thu trong năm và cũng là mùa thẩn thơ mơ mộng của thi nhân, nhất là những người đang tha phương cầu thực như chúng ta hiện nay nơi xứ lạ quê người với nỗi sầu thu trên đất khách, và càng thấm thía hơn khi có làn gió thu hắt hiu lạnh lùng thổi đến với đàn nhạn bay về phương nam in bóng trên nền trời xanh thẳm, như trong bài :

1.THU PHONG DẪN 秋風引 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 sau đây :

              何處秋風至?   Hà xứ thu phong chí ?
              蕭蕭送雁群。   Tiêu tiêu tống nhạn quần.
              朝來入庭樹,   Triêu lai nhập đình thọ,
              孤客最先聞。   Cô khách tối tiên văn.
             Inline image
                Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
 
* Chú thích :
    – Dẫn 引 : là Tên của một loại, một thể tài của thơ ca và âm nhạc ngày xưa. Ngoài DẪN ra, ta còn có KHÚC 曲 (như Tái Hạ Khúc 塞下曲); HÀNH (như Tì Bà Hành 琵琶行)…
    – Tiêu Tiêu 蕭蕭 : là từ Tượng thanh chỉ tiếng gió thu hiu hắt thổi vào cây cỏ lá hoa nghe “xào xào, xạt xạt”…
    – Triêu Lai 朝來 : chỉ Buổi sáng, là Sáng nay. Chữ 朝 nếu đọc là TRIỀU (có dấu huyền) thì có nghĩa là Đi chầu, là Triều Đại 朝代.
    – Đình Thọ 庭樹 : là Cây được trồng trong vòng rào trong sân nhà.
    – Cô Khách 孤客 : Người khách cô đơn nơi xứ lạ quê người. Trong bài thơ, thi nhân Lưu Vũ Tích tự ví mình là “Cô khách”.
    – Văn 聞 : Gồm có bộ MÔN 門 và chữ NHĨ 耳 ở giữa, với Hội Ý là : Chỏ lổ tai ra cửa (để nghe ngóng); Nên VĂN 聞 là Nghe.
                  Inline image
* Nghĩa bài thơ :
                            BÀI DẪN về GIÓ THU
        Gió thu từ đâu, từ xứ nào thổi đến nơi đây ? mà…
        Nghe xạt xào như đang đưa tiễn đàn nhạn trên trời (bay về Nam để tránh lạnh).
        Sáng nay lại lao xao luồn vào trong cây lá trong sân nhà, khiến cho…
        Người khách cô đơn xa nhà (là ta đây) nghe và cảm nhận trước hơn ai cả !
* Diễn Nôm :
                        THU PHONG DẪN
 
                   Inline image
                    Gió thu từ đâu thổi đến ?
                    Hắt hiu đưa tiễn nhạn bầy,
                    Sáng nay luồn vào cây lá,
                    Lữ khách hay trước hơn ai !
       Lục bát :
                    Từ đâu thổi đến gió thu ?
                Hắt hiu đưa nhạn mịt mù bay cao.
                    Sáng nay cây lá lao xao,
               Cô đơn lòng khách nao nao trước người ! 

2. NAM HÀNH BIỆT ĐỆ 南行別弟 của Vi Thừa Khánh 韋承慶 :  

             澹澹長江水,  Đạm đạm Trường giang thủy,
             悠悠遠客情。  Du du viễn khách tình.
             落花相與恨,  Lạc hoa tương dữ hận,
             到地一無聲。  Đáo địa nhất vô thinh !
           Inline image
             Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
 
* Chú thích :
    – VI THỪA KHÁNH 韋承慶 (640-706), tự là Diên Hưu, người đất Dương Võ, Trịnh Châu đời Đường (thuộc Huyện Nguyên Dương, tỉnh Hà Nam hiện nay). Cha là Tể Tướng VI TƯ KHIÊM 韋思謙. Vốn là dòng dõi Đỗ Lăng ở đất Kinh Triệu thuyên cư về phía nam. Ông là Tiến sĩ cập đệ, là Tễ Tướng dưới triều Võ Tắc Thiên.
    – Đạm Đạm 澹澹 : Hình dung từ, chỉ dòng nước “lững lờ, nhấp nhô”.
    – Du Du 悠悠 : là Dằng dặc, miên man.
* Nghĩa bài thơ :
                      TỪ GIẢ EM TRAI ĐI VỀ PHƯƠNG NAM
      Nước sông Trường Giang lững lờ trôi một cách vô vị (đạm đạm) cũng như…
      Cái tình của kẻ xa quê hương dằng dặc và dai dẵng kia (du du).
      Cánh hoa rụng cũng tựa như cái hận của kẻ xa quê…
      Âm thầm rơi trên mặt đất mà chẳng buồn gây nên một tiếng động nào cả !
      Ví hoa rụng như lòng của kẻ bị biếm phải lưu vong, oán hận mà âm thầm không thể bày tỏ cùng ai được ! Năm Thần Long nguyên niên (705) đời Đường Trung Tông, Vi Thừa Khánh bị biếm xuống đất phương nam (Quảng Đông) Bài thơ được làm khi chia tay cùng em trai trước lúc lên đường xuôi nam.
DIỄN NÔM :
                 NAM HÀNH BIỆT ĐỆ
              Inline image
              Lơ lửng nước Trường Giang,
              Mênh mang tình viễn khách.
              Hoa rụng hận chứa chan,
              Im lìm không oán trách !
     Lục bát :
              Lửng lơ giòng nước Trường Giang,
              Như tình viễn khách mênh mang bời bời.
              Hận cùng như cánh hoa rơi,
              Âm thầm trên mặt đất rồi lặng yên !

3. TẢO THU ĐỘC DẠ 早秋獨夜 của Bạch Cư Dị :   

             井梧涼葉動,   Tỉnh ngô lương diệp động,
             鄰杵秋聲發。   Lân chử thu thanh phát.
             獨向檐下眠,   Độc hướng thiềm hạ miên,
             覺來半牀月。   Giác lai bán sàng nguyệt.
             Inline image
* Chú thích :
    – TẢO THU ĐỘC DẠ 早秋獨夜 : Một mình trong đêm đến sáng mùa thu, là “Trong đêm thu một mình đến sáng. Cũng có nghĩa “Đầu thu, đêm ngủ một mình”.
    – Tỉnh Ngô 井梧 : Cây ngô đồng bên bờ giếng.
    – Lân Chử 鄰杵 : Tiếng chày đập khi giặt đồ của lối xóm.
    – Thiềm 檐 : Cái mái hiên nhà.
* Nghĩa bài thơ :
                             Một Mình Trong Đêm Đầu Thu
      Lá của cây ngô đồng đã lay động bên giếng thu mát mẻ.
      Tiếng chày giặt vải (để may áo ngự hàn) bên hàng xóm đã khơi động tiếng thu.
      Ta một mình nằm ngủ dưới mái hiên nhà…
      Khi giật mình thức giấc thì ánh trăng xế đã chiếu xeo xéo nửa giường ngủ của ta rồi !
                    Inline image
      Câu đầu của bài thơ “井梧涼葉動 Tỉnh ngô lương diệp động”, làm ta nhớ đến hai câu thơ cổ là “梧桐一葉落,天下盡知秋 Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ tận tri thu”. Có nghĩa : “Chỉ cần một lá ngô đồng rơi rụng, thì cả thiên hạ đều biết là mùa thu đã đến rồi !”. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn ý nầy để chuyển tiếp từ hạ sang thu khi Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư :
                            Thú quê thuần hức bén mùi,
                        Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô.
* Diễn Nôm :
                      TẢO THU ĐỘC DẠ
                Inline image
               Giếng ngô hắt hiu cành lá,
               Tiếng chày đập vải thu sang.
               Một mình dưới hiên say ngủ,
               Giật mình trăng đã nửa sàng.
      Lục bát :
               Lá ngô lay động giếng vàng,
               Tiếng chày đập vải thu sang láng giềng.
               Một mình nằm ngủ dưới hiên,
               Giật mình tỉnh giấc trăng nghiêng nửa giường !

4. THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI 秋夜寄邱員外 của Vi Ứng Vật 韋應物 : 

               懷君屬秋夜,  Hoài quân thuộc thu dạ,
               散步詠涼天。  Tản bộ vịnh lương thiên.
               空山松子落,  Không sơn tòng tử lạc,
               幽人應未眠。  U nhân ưng vị miên !?
             Inline image
                Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
* Chú thích :
    – VIÊN NGOẠI 員外 : Còn được gọi là VIÊN NGOẠI LANG 員外郎, là chức quan phụ cho quan viên chính trong lục bộ có từ thời Tam Quốc và Ngụy Tấn trở về sau. Đến đời Minh Thanh thì đây chỉ là chức Hàm, chỉ có chức nhưng không có quyền; Thường thì những phú thương và địa chủ hay dùng tiền để mua chức Viên Ngoại nầy, để được vừa Phú vừa Qúy. Vì thế trong dân gian quen gọi những người giàu có là Viên Ngoại.
    – Hoài 懷 : là Hoài niệm, là nhớ đến ai đó. HOÀI QUÂN 懷君 là Nhớ đến anh.
    – Vịnh 詠 : Ở trong câu nầy có nghĩa là Ngâm nga.
    – Không Sơn 空山 : Chỉ núi non trống vắng.
    – U Nhân 幽人 : chỉ những người ở nơi vắng vẻ nhàn nhã, những người ở ẩn.
* Nghĩa bào thơ :
                     ĐÊM THU GỞI VIÊN NGOẠI HỌ KHƯU
       Tôi nhớ đến anh vào những đêm thu như đêm nay,
       Tôi đi tản bộ và ngâm nga trong cảnh đêm mát mẻ nầy. Ngắm cảnh…
       Núi non trống vắng yên lặng đến nghe được từng tiếng trái thông rụng…
       Giờ nầy chắc con người thảnh thơi nhàn nhã như anh chưa ngủ đâu nhỉ !?
* Diễn Nôm :
                 THU DẠ KÝ KHƯU VIÊN NGOẠI   
                Inline image
                  Trong đêm thu nhớ bạn,
                  Trời mát vịnh vẩn vơ.
                  Núi vắng trái thông rụng,
                  Chắc chưa ngủ người thơ ?!
        Lục bát :
                  Nhớ người trong những đêm thu,
                  Ngâm nga tản bộ trời thu lạnh lùng.
                  Núi không rơi nhẹ trái tùng…
                  Chắc người u nhã đều cùng thức đây ?!

5. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾上驚秋 của Tô Đĩnh 蘇頲 :

      TÔ ĐĨNH 蘇頲 (670—727)tự là Đình Thạc 廷碩, người đất Kinh Triệu (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), đậu Tiến sĩ thời Võ Tắc Thiên, làm quan đến chức Hứa Quốc Công. Năm Khai nguyên thứ 13 đời Đường (723), ông bị biếm khỏi kinh thành, hai năm sau mới được triệu hồi về Trường An. Suốt hai năm đi đày là khoảng thời gian mà Tô Đĩnh bi quan và thất vọng nhất. Ta hãy đọc bài thơ sau đây của ông sẽ rõ…
                汾上驚秋      PHẦN THƯỢNG KINH THU
               北風吹白雲,   Bắc phong xuy bạch vân,
               萬里渡河汾。   Vạn lý độ hà Phần.
               心緒逢搖落,   Tâm tự phùng diêu lạc,
               秋聲不可聞。   Thu thanh bất khả văn !
           Inline image
                                          Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
* Chú thích :
    – PHẦN 汾 : là tên sông, bắt nguồn từ tỉnh Sơn Tây, chảy vô sông Hoàng Hà. KINH 驚 là sợ, là giật mình, kinh ngạc. PHẦN THƯỢNG KINH THU 汾上驚秋 là “Giật mình khi thấy mùa thu đã đến trong lúc thuyền đi ngang trên sông Phần”. Cũng có nghĩa “Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy mùa thu đã về”.
    – Hà Phần 河汾 : là cách gọi chung sông Hoàng Hà và sông Phần.
    – Tâm Tự 心緒 : là Tâm lý của con người, ở đây chỏ “Cỏi lòng, nỗi lòng”.
    – Diêu Lạc 搖落 : DIÊU là Dao động; LẠC là Rơi rụng. DIÊU LẠC hay DAO LẠC chỉ lá cây dao động và rơi rụng trong gió mùa thu. Trong câu thơ PHÙNG DIÊU LẠC  逢搖落 là Gặp mùa lá rụng, là mùa Thu đó.
* Nghĩa bài thơ :
                   Trên sông Phần kinh ngạc khi thấy thu về.
       Những trận gió từ phương bắc thổi về cuốn trôi những làn mây trắng.
       Từ muôn dặm trở về đây để đi ngang qua con sông Phần nầy.
       Nỗi lòng rối bời lại nhằm lúc cây lá dao động và rơi rụng vì gió thu,
       Tiếng thu xào xạt xao xát não lòng khiến người ta không muốn nghe chút nào cả !
       Ông tự ví mình như làn mây trắng nổi trôi bị gió phương bắc cuốn đi muôn vạn dặm đến con sông Phần xa xôi nầy, và trong tâm lý bi quan thất vọng của kẻ đi đày bỗng chợt bàng hoàng khi thấy lá vàng bay trong gió thu hiu hắt… Chữ KINH trong tựa bài thơ có nghĩa như là chợt giật mình nhận ra là trời đã vào thu rồi… và tiếng thu xạt xào tiêu sắt lạnh lùng khiến cho người lữ thứ không muốn nghe thấy chút nào cả ! Như cụ Nguyễn Du đã tả nỗi lòng của Thúy Kiều khi lần đầu tiên phải xa quê theo Mã Giám sinh về nơi xứ lạ :
                              Vi lô san sát hơi may,
                     Một trời thu để riêng ai một người !
 
                       Inline image
* Diễn Nôm :
                     PHẦN THƯỢNG KINH THU
                     Gió bấc vờn mây trắng,
                     Muôn dặm ngang sông Phần.
                     Nỗi lòng như lá rụng,
                     Tiếng thu chẳng muốn nghe !
         Lục bát :
                     Gió bấc về  mây trắng bay,
                     Sông Phần muôn dặm ai hoài sang ngang.
                     Nỗi lòng cây lá thu sang,
                     Tiếng thu não nuột bàng hoàng chẳng nghe !
        Đang sống trong cảnh vinh hoa phú quý, chợt phải đi đày xa ngoài vạn dặm, lại gặp cảnh trời thu heo may lạnh lùng trên sông nước, những cánh nhạn xuôi nam với muôn ngàn lá rụng trong gió thu se sắt. Chả trách nỗi lòng của Tô Đĩnh trở nên bi quan thương cảm não nề như thế kia !
             Inline image
                                         Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
        Hẹn 5 bài dịch tới !

                                                                             杜紹德

                                                                        Đỗ Chiêu Đức

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác