VŨ TRỌNG PHỤNG – VIẾT SỰ THẬT BẰNG CẢ MÁU MÌNH

Ngày đăng: 26/09/2026 10:09:37 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Lịch sử văn học Việt Nam có không ít thiên tài đoản mệnh. Nhưng hiếm ai để lại một cảm giác xót xa như Vũ Trọng Phụng – người được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc”, một trong những cây bút hiện thực xuất sắc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Người ta có thể viết bằng trí tuệ, bằng trái tim, nhưng Vũ Trọng Phụng dường như đã viết bằng chính máu mình. Hai mươi bảy năm ngắn ngủi của đời người đã để lại một sự nghiệp khiến gần một thế kỷ sau, văn đàn Việt Nam vẫn chưa thôi nhắc đến tên ông với sự kính trọng và tiếc nuối. Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Ông sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở làng Hảo thuộc làng cổ Liêu Xuyên, trước sát nhập là thôn Ông Hảo, xã Nguyễn Văn Linh, tỉnh Hưng Yên. Nhưng ông lớn lên và qua đời tại Hà Nội. Con ông Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra Charles Boillot, cha mất khi Vũ Trọng Phụng được 7 tháng tuổi, mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy nuôi con ăn học. Học hết tiểu học tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng năm 16 tuổi. Sau hai năm làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang làm báo, viết văn chuyên nghiệp. Tác phẩm đầu tay là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo năm 1930.

Các tác phẩm: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, một vở kịch dịch từ tiếng Pháp, một số bài phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về chính trị, xã hội, văn hóa.

Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ. Dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình nhỏ cùng bà nội và mẹ già. Tuy viết về nhiều tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức và sống rất kham khổ.

Những ngày cuối đời, trên giường bệnh ông nói với Vũ Bằng: “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này”. Vợ ông, bà Vũ Mỹ Lương, tên thường gọi là bà Gái, là con người vợ thứ tư của cụ Cửu Tích, một nhà tư sản có cửa hàng thuốc ở phố Hàng Bạc. Sau khi cưới (ngày 23/01/ 1938) vợ chồng ông thuê nhà phố này.

Ông mất (ngày 13/10/1939) do bệnh lao phổi, để lại gia đình còn bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy một tuổi tên là Vũ Mỵ Hằng.

Ông được chôn cất ở nghĩa trang Hợp Thiện, rồi dời đến nghĩa trang Quán Dền. Năm 1988, con gái Vũ Mỵ Hằng mới đưa ông về quy thổ vĩnh tại mảnh vườn của nhà mẹ vợ ông tại làng Giáp Nhất.

Ông sống vỏn vẹn hai mươi bảy năm. Hai mươi bảy năm ấy đủ để viết nên những tác phẩm bất hủ, nhưng lại không đủ để giúp ông thoát khỏi đói nghèo, bệnh tật và cái chết. Có lẽ bi kịch lớn nhất của Vũ Trọng Phụng không phải là chết trẻ, mà là một thiên tài đã phải viết trong những cơn ho ra máu và ra đi khi không đủ tiền mua thuốc chữa bệnh.

Đêm cuối cùng của một thiên tài. Theo nhiều hồi ức của bạn văn, Hà Nội bước vào mùa đông se lạnh. Những ngày cuối đời ông nằm trên chiếc chiếu mỏng trong căn nhà thuê ở phố Hàng Bạc, sức đã kiệt vì bệnh lao. Bên cạnh là người vợ trẻ lặng lẽ nhìn chồng trong bất lực. Ở góc phòng, cô con gái nhỏ đã ngủ thiếp đi vì quá mệt. Trên chiếc bàn gỗ cũ kê sát tường vẫn còn chồng bản thảo viết tay dày đặc, nhiều trang chưa kịp hoàn thành. Đó chính là tác giả của Số đỏ – cuốn tiểu thuyết châm biếm được xem là đỉnh cao của văn học hiện thực Việt Nam.

Một nghịch lý đến nhói lòng. Người đã tạo nên nhân vật Xuân Tóc Đỏ – kẻ nhờ sự láu cá và may mắn mà leo lên đỉnh cao danh vọng lại không thể kiếm nổi tiền để mua cho mình một liều thuốc kéo dài sự sống. Ông ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ Đám tang của Vũ Trọng Phụng diễn ra lặng lẽ. Không có những vòng hoa rực rỡ, không có những điếu văn long trọng. Chỉ vài người thân, vài bạn văn và những người yêu quý ông lặng lẽ đưa tiễn. Một thiên tài của văn học hiện thực Việt Nam khép lại cuộc đời trong sự âm thầm đến xót xa. Hôm ấy, Hà Nội vẫn đông đúc như mọi ngày. Ít ai biết rằng thành phố vừa mất đi một trong những cây bút lớn nhất của mình.

Tuổi thơ nghèo đã dạy ông nhìn thấy sự thật. Cha mất khi ông chưa đầy một tuổi. Mẹ ông tần tảo bán hàng xén ngoài chợ để nuôi con khôn lớn. Thuở nhỏ, ông học rất giỏi. Nhưng hết bậc tiểu học, việc học phải dừng lại vì gia đình không còn khả năng đóng học phí. Tuổi thơ thiếu thốn ấy đã khiến cậu bé Vũ Trọng Phụng sớm hiểu rằng: phía sau những phố phường hào nhoáng của Hà Nội thuộc địa là biết bao phận người cơ cực. Một Hà Nội tồn tại hai thế giới: Một bên là phố Tây với nhà đá, quán cà phê, rạp chiếu bóng, những cuộc vui của tầng lớp thượng lưu. Một bên là những con ngõ tối, trẻ bán báo, người kéo xe, người làm thuê chen chúc trong nghèo đói. Chính khoảng cách ấy đã nuôi lớn trong ông khát vọng phải viết ra sự thật. Những năm tháng bươn chải kiếm sống đã đưa ông bước gần hơn với nghề báo và cũng là lúc thiên chức nhà văn được đánh thức. Từ lúc mười sáu tuổi, ông làm nhân viên đánh máy tại hãng Thông tấn Viễn Đông. Mỗi ngày gõ lại những bản tin về giới quan lại, thương gia và tầng lớp giàu có, ông càng nhận ra khoảng cách rất lớn giữa những gì được tô vẽ trên mặt báo với đời sống thật của xã hội. Có lẽ từ đó, nhà văn trong ông đã được hình thành.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng đánh giá Vũ Trọng Phụng là một nhà văn có sức quan sát hiếm thấy. Ông cho rằng ngòi bút của Vũ Trọng Phụng “sắc như dao mổ”, đi thẳng vào những ung nhọt của xã hội thuộc địa mà không né tránh, không tô son điểm phấn. Chính sự trung thực đến quyết liệt ấy khiến tác phẩm của ông vừa gây tranh cãi dữ dội lúc sinh thời, vừa có sức sống bền bỉ cho đến hôm nay.

Vũ Trọng Phụng bước vào văn chương và ông chọn con đường chông gai nhất.

Những năm ba mươi của thế kỷ XX, văn học Việt Nam rất sôi động. Nhiều nhà văn viết về tình yêu lãng mạn, cái tôi cá nhân hay những thân phận nghèo bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu thương cảm. Riêng Vũ Trọng Phụng lại chọn một con đường khác. Ông không vuốt ve hiện thực. Ông mổ xẻ nó, không nhân nhượng, không né tránh, không tô hồng sự thật. Ngòi bút của ông cứ thế giống như lưỡi dao phẫu thuật, bóc từng lớp giả dối của xã hội thuộc địa nửa Tây nửa ta.

Năm 1936, lúc hai mươi bốn tuổi, ông cho ra đời Số đỏ. Xuân Tóc Đỏ từ một đứa trẻ bụi đời, nhặt bóng quần vợt, bằng tài “diễn”, bằng sự cơ hội và nhờ những nghịch lý xã hội, bỗng trở thành người hùng, chuyên gia thể thao, nhà cải cách…

Điều Vũ Trọng Phụng châm biếm không phải chỉ là một cá nhân. Ông phơi bày cả một xã hội, nơi năng lực nhiều khi không quan trọng bằng khả năng đóng vai, nơi đạo đức bị thay thế bằng danh tiếng và sự hào nhoáng. Xuân Tóc Đỏ chỉ là cái cớ. Đằng sau nhân vật ấy, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên cả một sân khấu xã hội, nơi danh vọng được mua bằng sự lố bịch, nơi cái giả nhiều khi được tung hô hơn cái thật…các nhân vật như ông Văn Minh luôn rao giảng “Âu hóa” để kiếm tiền; bà Phó Đoan khoác lên mình chiếc áo “tân thời” đầy giả tạo; cụ Cố Hồng chỉ mong có người chết để được làm một đám tang thật lớn.

Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng đọc Số đỏ hôm nay, người ta vẫn giật mình vì nhiều điều dường như chưa hề cũ. Nhiều nhân vật trong Số đỏ vẫn khiến người đọc bật cười rồi chợt lặng đi. Bởi đằng sau tiếng cười ấy là một sự thật đau xót: ở bất cứ thời đại nào cũng có những “Xuân Tóc Đỏ” biết lợi dụng sự phù phiếm của xã hội để bước lên đỉnh cao mà không cần tài năng hay nhân cách. Đó chính là giá trị tiên tri của một kiệt tác.

Vũ Trọng Phụng không chỉ viết tiểu thuyết Số đỏ mà còn là nhà báo viết phóng sự điều tra rất dũng cảm qua các tác phẩm: “Kỹ nghệ lấy Tây” và “Cạm bẫy người”

Nhà văn thiên tài ấy viết đến hơi thở cuối cùng trong cảnh nghèo túng và bệnh tật. Ít ai biết rằng khi Số đỏ ra đời, Vũ Trọng Phụng đã bắt đầu mắc bệnh lao phổi. Ông thường xuyên ho ra máu. Nhiều ngày phải nhịn ăn để dành tiền mua thuốc.

Thế nhưng, ông vẫn viết. Viết không ngừng nghỉ. Chỉ trong khoảng bảy năm cầm bút, ông đã để lại một khối lượng tác phẩm khiến nhiều người kinh ngạc. Các tiểu thuyết như Dông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc…, cùng hàng loạt thiên phóng sự nổi tiếng như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, Cơm thầy cơm cô,..

Đó là một sức lao động gần như phi thường. Nhưng cũng chính vì phải viết để kiếm sống, sức khỏe của ông ngày một suy kiệt. Cuộc đời ông rơi vào một vòng luẩn quẩn nghiệt ngã: Viết nhiều để có tiền. Có tiền để sống và để mua thuốc. Nhưng viết quá sức nên bệnh nặng hơn. Bệnh nặng càng cần tiền mua thuốc nên phải viết nhiều hơn. Có những mùa đông, ông mặc chiếc áo mỏng, ho ra máu vào khăn tay rồi lặng lẽ gấp lại, tiếp tục ngồi vào bàn viết cho kịp hạn giao bài. Ông đang viết để nuôi gia đình. Và cũng đang viết để níu giữ chính sự sống của mình.

Càng viết trung thực ông càng bị công kích. Bởi Sự thật chưa bao giờ dễ được chấp nhận. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng từng bị lên án là “dâm thư”, “dâm uế”, bị kiểm duyệt và bị nhiều người chỉ trích dữ dội. Nhưng ông chưa bao giờ lùi bước.

Năm 1937, đáp lại những lời công kích, ông viết một câu đã trở thành tuyên ngôn nghệ thuật bất hủ:

“Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời.”

Đó không chỉ là lời đáp trả dành cho những người phê phán ông. Đó còn là lời tuyên ngôn của một nhà văn suốt đời trung thành với sự thật.

Hành trình tiếp nhận tác phẩm của Vũ Trọng Phụng cũng nhiều thăng trầm. Sau năm 1945 từng có thời gian ông bị nhìn nhận phiến diện, rồi giá trị được phục hồi.

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nhận xét rằng Vũ Trọng Phụng là “một trong những đỉnh cao nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam”. Theo ông, đọc Vũ Trọng Phụng không chỉ để cười mà còn để hiểu vì sao một xã hội có thể sản sinh ra những bi kịch và những nghịch lý đến như vậy. Chính vì thế, tác phẩm của ông càng lùi xa về thời gian càng chứng tỏ giá trị lâu bền.

Nguyễn Tuân từng nhiều lần bày tỏ sự khâm phục đối với tài năng của Vũ Trọng Phụng. Ông xem người bạn văn bạc mệnh ấy là một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam, một cây bút có sức quan sát xã hội sắc bén hiếm có. Với Nguyễn Tuân: Vũ Trọng Phụng không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là người đã dám nhìn thẳng vào sự thật trong một thời đại mà sự thật nhiều khi không được chào đón.

Cái chết của một nhà văn và sự bất tử của một ngòi bút.

Khi Vũ Trọng Phụng qua đời, tin buồn ấy chỉ xuất hiện bằng vài dòng ngắn ngủi trên báo. Gia tài ông để lại thật ít ỏi, không nhà cửa, không tiền bạc. Chỉ có người vợ chưa đầy ba mươi tuổi, cô con gái thơ dại, những món nợ còn dang dở và hàng chồng bản thảo. Nhưng thời gian đã trả lại cho ông sự công bằng.

Nhiều thập niên sau, Số đỏ được thừa nhận là một kiệt tác của văn học Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa vào chương trình học và nghiên cứu ở nhiều trường đại học. Tên Vũ Trọng Phụng (1912 -1939) được đặt cho đường phố, trường học; còn “Xuân Tóc Đỏ” đã trở thành một danh từ riêng để chỉ những kẻ cơ hội, bất tài nhưng gặp thời. Sự vinh danh ấy là xứng đáng. Nhưng cũng khiến người ta day dứt. Phải chăng xã hội thường rất hào phóng với những thiên tài sau khi họ đã mất, còn khi họ còn sống thì lại quá ít người đủ bao dung để giúp họ tồn tại?

Ai cũng biết nhà văn viết bằng tài năng và tâm huyết. Nhưng Vũ Trọng Phụng còn đặc biệt hơn là ông đã viết đến hơi thở cuối cùng cho sự thật, trong những cơn ho của bệnh tật nghèo đói và bằng chính sinh mệnh ngắn ngủi của mình.

Vũ Trọng Phụng đã ra đi ở tuổi hai mươi bảy. Nhưng ông chưa bao giờ chết. Bởi mỗi lần xã hội còn có sự giả dối, cơ hội, háo danh và những chiếc mặt nạ được khoác lên bằng quyền lực hay tiền bạc, thì tiếng cười châm biếm của ông vẫn còn vang lên từ những trang sách. Mỗi trang sách của ông đều thấm mồ hôi của lao động, thấm máu của bệnh tật và thấm nỗi đau của một nhà văn dám trả giá cho sự thật.

Gần một thế kỷ sau ngày ông khép lại cuộc đời, người đọc vẫn lặng lẽ cúi đầu trước một ngòi bút đã dám sống đến tận cùng với sự thật. Đó là lý do Vũ Trọng Phụng không chỉ thuộc về lịch sử văn học, mà còn thuộc về lương tri của mọi thời đại.

Sài Gòn ngày 05/8/2026

Hoàng Thị Bích Hà

*Tiểu sử tham khảo về tiểu sử: nguồn Wikipedia, các thông tin khác liên quan đến cuộc đời, giai thoại tổng hợp từ nhiều nguồn.

ảnh báo Thanh Niên

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác