TRONG KHI CHIẾC XE ĐỢI
Henry là một tác giả truyện ngắn người Mỹ, tên thật là William Sydney Porter. Kho tàng tác phẩm phong phú của ông phản ánh kinh nghiệm sống đa dạng và được biết đến với lối văn dí dỏm, sử dụng ngôn từ khéo léo và những cái kết bất ngờ đặc trưng.
Về bút danh của ông, có một tờ báo đã hỏi ông chữ O có ẩn ý gì, và ông nói: ” O là của Olivier, cái tên Pháp của Oliver”. Và thực sự là đã có một vài truyện ông ký tên Olivier Henry.
Giống như nhiều nhà văn khác, sự nghiệp ban đầu của O. Henry khá mơ hồ, ông từng thử sức với nhiều công việc khác nhau trước khi tìm được con đường văn chương của mình. Năm 1879, ông bắt đầu làm việc tại hiệu thuốc của chú và trở thành dược sĩ có bằng hành nghề khi mới 19 tuổi. Những biểu hiện sáng tạo đầu tiên của ông đến từ chính công việc này, khi ông vẽ chân dung những người dân thường xuyên ghé qua cửa hàng. Các bức ký họa của ông được đón nhận nồng nhiệt, và ông được yêu mến vì tài năng hội họa.
Năm 1882, O. Henry chuyển đến Texas với hy vọng chữa khỏi căn ho kéo dài. Tại đây, ông sống tại một trang trại cừu, học chăn nuôi, nấu ăn, trông trẻ và học cả tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức từ những người lao động nhập cư. Ông có đời sống xã hội khá sôi nổi ở Austin và là một nhạc công giỏi, chơi thành thạo guitar và mandolin. Trong những năm sau đó, Porter – tên thật lúc bấy giờ – làm đủ nghề: từ dược sĩ, kỹ thuật viên vẽ bản đồ, phóng viên đến nhân viên ngân hàng.
Và đây là lúc những khúc ngoặt thật sự bắt đầu. Công việc ngân hàng hóa ra không phù hợp với ông; O. Henry khá bất cẩn trong sổ sách kế toán, bị sa thải và buộc tội biển thủ công quỹ năm 1894. Bố vợ ông bảo lãnh tại ngoại, nhưng ông đã bỏ trốn trước phiên tòa năm 1896, chạy đến New Orleans rồi Honduras, nơi không có hiệp ước dẫn độ. Tại đây, ông kết bạn với một tên cướp tàu hỏa khét tiếng, Al Jennings, người sau này viết sách kể về tình bạn của họ. O. Henry gửi vợ và con gái trở lại Texas, còn bản thân ông ẩn náu trong một khách sạn và bắt đầu viết tập truyện đầu tay Cabbages and Kings, xuất bản năm 1904.
Khi biết tin vợ mình mắc bệnh lao và không thể sang Honduras, ông quay về Austin và ra tòa. Bố vợ lại bảo lãnh để ông được ở bên vợ cho đến khi bà mất năm 1897. Sau đó, ông bị kết án và thụ án tù liên bang tại Ohio trong 5 năm, từ 1898 đến 1902. Trong thời gian ngồi tù, ông lại hành nghề dược và được ở phòng riêng trong bệnh xá, không phải ở trong xà lim như các tù nhân khác.
O. Henry
Giai đoạn sáng tác sung mãn nhất của O. Henry bắt đầu vào năm 1902 khi ông sống tại New York. Ông đã viết 381 truyện ngắn, trong đó có thời gian hơn một năm ông đều đặn nộp một truyện mỗi tuần cho tạp chí New York World Sunday Magazine. Nhiều tác phẩm hay nhất và ít được biết đến nhất của ông nằm trong tuyển tập Cabbages and Kings, lấy cảm hứng từ bài thơ The Walrus and the Carpenter của Lewis Carroll. Các truyện này được đặt trong bối cảnh một thị trấn Trung Mỹ với các cốt truyện chính và phụ đan xen đầy cuốn hút.
Tuyển tập thứ hai The Four Million phát hành năm 1906, lấy bối cảnh thành phố New York và được đặt tên theo dân số thành phố lúc ấy. Tập truyện này bao gồm nhiều kiệt tác như The Gift of the Magi, The Cop and the Anthem, và nhiều truyện khác. O. Henry có một tình yêu đặc biệt với New York và sự đa dạng trong con người và nơi chốn, điều này thể hiện rõ trong nhiều truyện ngắn của ông. Dấu ấn phong cách O. Henry nằm ở những kết thúc bất ngờ đầy dí dỏm, nhân vật được khắc họa sinh động, và những hoàn cảnh trớ trêu nhưng đầy tính nhân văn. Truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông, The Gift of the Magi, chính là điển hình cho phong cách này: một cặp vợ chồng trẻ nghèo khổ cố gắng mua quà Giáng sinh cho nhau – và vấn đề tài chính được giải quyết theo một cách đầy bất ngờ và cảm động. The Cop and the Anthem kể về một gã lang thang ở New York tìm cách “vào tù” để tránh cái rét mùa đông. Một truyện khác, A Retrieved Reformation, kể về một tên trộm két sắt tên Jimmy Valentine mới ra tù, cuộc đời rẽ sang hướng khác trong khi anh ta cố sống lương thiện (hay là đang “thăm dò mục tiêu” mới?). The Ransom of Red Chief lại là một câu chuyện hài hước về hai kẻ bắt cóc phải “chịu trận” với cậu bé tinh quái mà chúng bắt cóc. Các truyện của O. Henry đều rất giải trí, dù đọc để thưởng thức hay để nghiên cứu trong lớp học. Năm 1952, Marilyn Monroe và Charles Laughton tham gia phim O. Henry’s Full House, chuyển thể từ 5 truyện ngắn của ông. Bộ phim bao gồm: The Cop and the Anthem, The Clarion Call, The Last Leaf, The Ransom of Red Chief (do Fred Allen và Oscar Levant thủ vai), và The Gift of the Magi.
Đáng tiếc thay, bi kịch cá nhân của O. Henry là nghiện rượu nặng. Từ năm 1908, sức khỏe ông suy giảm nghiêm trọng và năng suất sáng tác cũng theo đó giảm sút. Ông qua đời năm 1910 vì xơ gan, biến chứng của tiểu đường và bệnh tim. Lễ tang tổ chức tại New York, nhưng thi thể ông được an táng tại Bắc Carolina – nơi ông sinh ra. O. Henry là một nhà văn truyện ngắn tài năng, để lại một di sản văn học đồ sộ và phong phú cho hậu thế.
“While the Auto Waits” (Trong khi chiếc xe đợi) là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của O. Henry, với kết cấu gọn nhẹ, đối thoại tinh tế và đặc biệt là khúc quanh bất ngờ ở cuối. Dưới bề mặt của một cuộc gặp gỡ lãng mạn nơi công viên, tác phẩm thực chất là một bức tranh châm biếm sâu sắc về giai cấp, ảo tưởng và bản chất con người trong xã hội đô thị hiện đại.
Ngay từ đầu truyện, cả hai nhân vật chính đều bước vào cuộc đối thoại trong những “vai diễn” được dựng lên một cách có ý thức. Cô gái tự nhận mình là một tiểu thư giàu có, chán ghét cuộc sống xa hoa; trong khi chàng trai đóng vai một người bình thường, khiêm nhường.
Tuy nhiên, càng về sau, người đọc càng nhận ra rằng:: Cô gái thực chất chỉ là một cô thu ngân nhà hàng, nhưng lại khao khát được hóa thân thành người thuộc giới thượng lưu. Ngược lại, chàng trai – tưởng như bình dân – lại chính là người bước lên chiếc ô tô sang trọng và ra lệnh cho tài xế.
Sự đảo ngược này cho thấy thân phận xã hội không phải lúc nào cũng trùng khớp với cách con người thể hiện mình. Con người thường khoác lên mình những lớp vỏ để che giấu sự thật hoặc để đạt được một điều gì đó – ở đây là sự lãng mạn, sự chú ý, hay cảm giác vượt thoát khỏi thực tại.
Khát vọng thoát ly thực tại và giấc mơ về một đời sống khác
Cô gái mặc đồ xám chính là hiện thân rõ nét của tâm lý “thoát ly”:
Cô chán cuộc sống tầm thường của mình đến mức phải tưởng tượng ra một thế giới xa hoa để trú ngụ.
Những chi tiết như “Đại Công tước”, “Hầu tước”, hay “ly sâm panh với đá” đều là sản phẩm của trí tưởng tượng vay mượn từ báo chí và xã hội thượng lưu.Ở chiều ngược lại, chàng trai giàu có lại tỏ ra thích thú với hình ảnh một cô gái “bình dân”, “tự nhiên”, không bị đồng tiền làm hư hỏng. Như vậy, cả hai nhân vật đều: Không hài lòng với vị trí thực tại của mình
Hướng về một hình ảnh “khác” của đời sống
Điều này phản ánh một sự thật phổ quát: con người luôn khao khát những gì mình không có.
Sự trớ trêu của nhận thức và giới hạn của cái nhìn bề ngoài.
Điểm đặc sắc nhất của truyện nằm ở cái kết: Người đọc nhận ra cả hai đã đánh giá sai về nhau.
Họ bị đánh lừa bởi chính những “vai diễn” mà đối phương trình bày.
O. Henry qua đó muốn nhấn mạnh: Cái nhìn bề ngoài thường không đáng tin cậy . Xã hội hiện đại, đặc biệt là đô thị, là nơi con người dễ dàng “đóng vai” và đánh lừa nhau. Điều này tạo nên một lớp nghĩa sâu sắc:
Chân thực và giả tạo luôn đan xen, và ranh giới giữa chúng rất mong manh.
Truyện không chỉ kể một câu chuyện cá nhân mà còn mang tính phê phán xã hội: Giới thượng lưu bị châm biếm qua sự phù phiếm, nhàm chán, và những “mốt” lố bịch. Giới bình dân bị phản ánh qua tâm lý ngưỡng mộ và bắt chước hời hợt.
Cả hai đều bị đặt trong một thế đối chiếu:
Người giàu muốn thoát khỏi sự giả tạo./ Người nghèo lại khao khát bước vào chính thế giới ấy.
Đây là một vòng tròn nghịch lý đầy tính mỉa mai.
“Trong khi chiếc xe đợi” là một truyện ngắn ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Thông qua một cuộc trò chuyện tưởng chừng nhẹ nhàng, O. Henry đã:
Phơi bày sự giả tạo trong quan hệ xã hội; Khắc họa khát vọng thoát ly thực tại của con người và nhấn mạnh tính tương đối của nhận thức về người khác. Cái kết bất ngờ không chỉ gây ấn tượng mà còn buộc người đọc phải suy ngẫm: Chúng ta là ai trong mắt người khác, và liệu hình ảnh đó có bao giờ là sự thật?Truyện vì thế không chỉ là một mẩu chuyện dí dỏm, mà còn là một tấm gương phản chiếu bản chất phức tạp của con người trong xã hội hiện đại.
oOo
“ Trong khi chiếc xe đợi là một cuộc gặp gỡ đầy ẩn ý trên chiếc ghế công viên giữa một chàng trai trẻ và một người phụ nữ bí ẩn—người tự nhận mình đã mệt mỏi với cuộc sống giàu sang, đặc quyền. Cú xoay chuyển đặc trưng của O. Henry tiết lộ rằng cả hai đều không hoàn toàn là con người mà họ giả vờ trở thành.
“Chính sự đơn điệu của nó khiến người ta chán ngán. Những chuyến dạo chơi, những bữa tiệc tối, rạp hát, vũ hội, những bữa ăn khuya—tất cả đều được phủ lên một lớp hào nhoáng của thứ giàu sang dư thừa.”
Hình minh họa
Đúng vào lúc chạng vạng vừa bắt đầu, cô gái mặc đồ xám lại đến góc yên tĩnh của công viên nhỏ, tĩnh lặng ấy. Cô ngồi xuống một chiếc ghế dài và đọc sách, vì vẫn còn khoảng nửa giờ ánh sáng đủ để đọc chữ.
Nhắc lại: váy áo của cô màu xám, giản dị đủ để che đi vẻ tinh tế hoàn hảo trong kiểu dáng và độ vừa vặn. Một tấm mạng che thưa mắt lớn phủ lấy chiếc mũ không vành và khuôn mặt thấp thoáng phía sau—một vẻ đẹp bình thản và vô thức. Cô đã đến đây vào đúng giờ ấy ngày hôm qua, và cả ngày trước nữa; nhưng chỉ có một người biết điều đó.
Chàng trai trẻ, người biết rõ chuyện ấy, lảng vảng gần đó, đặt niềm tin vào những “lễ vật cháy dâng” cho vị thần vận may. Sự thành tâm của anh đã được đền đáp, bởi khi cô lật một trang sách, quyển sách tuột khỏi tay cô và rơi bật ra khỏi ghế xa đến cả một thước.
Có một anh chàng nhận ra điều đó và lảng vảng đến gần, trông cậy vào hình nhân đã được đốt để cúng thần phật khôn thiêng là Sự May Mắn. Lòng sùng đạo của chàng ta đã được đền đáp, vì trong lúc giở trang sách nàng đã để cuốn sách rơi tuột khỏi tay và lăn cách xa cái ghế đến hàng mét. Chàng thanh niên đó liền vồ lấy cuốn sách một cách háo hức, trả nó cho người chủ với một dáng điệu trông như hoa nở trong công viên và những nơi công cộng, đó là một sự kết hợp giữa sự hào hoa và niềm hy vọng được tôi luyện với một lòng kính trọng cảnh sát đi tuần. Với một giọng nói nghe dễ chịu, chàng ta đánh liều nhận xét không ăn nhằm gì về thời tiết, một chủ đề khai mào lại phải gánh chịu trách nhiệm quá nhiều về niềm bất hạnh của thế gian này, rồi đứng trơ ra một lát, mặc cho số phận đang chờ đợi mình.Cô gái thong thả nhìn chàng ta khắp lượt; rồi nhìn vào bộ quần áo gọn gàng, bình thường và vào những đường nét không có gì đặc biệt nổi bật qua cung cách thể hiện cả.- Anh có thể ngồi xuống mà – nàng nói, giọng nữ trầm ấm cố tình – Thật lòng em muốn anh làm thế. Ánh sáng tồi quá, không thể đọc được, nên em muốn nói chuyện. Kẻ tôi đòi May Mắn kia ngồi nhanh xuống bên cạnh nàng như để chiều nàng.- Thế em có biết – chàng ta nói giọng nghe trịnh trọng như các vị chủ tịch công viên mở đầu hội nghị ấy – rằng em là một cô gái quyến rũ nhất mà đã không biết bao lâu nay anh mới thấy không? Hôm qua anh đã để ý đến em. Thế em có biết là đã có ai đó phải chạy bổ đến bên đôi mắt đẹp đến nhường này của em không, hả em yêu?
– Dù anh là ai – cô gái nói, giọng nghe lạnh tanh – anh cũng phải nhớ rằng em là một quý cô. Em sẽ tha thứ cho những lời nhận xét mà anh vừa mới đưa ra, vì dù gì đi nữa, lỗi lầm không phải là không phi tự nhiên trong cái giới nhà anh. Em mời anh ngồi xuống, nhưng nếu lời mời đó mà phải biến em thành một thứ em yêu của anh, thì em sẽ xem xét và rút lời mời lại.
– Anh vô cùng mong em thứ lỗi cho – chàng thanh niên nài nỉ. Vẻ thỏa mãn của chàng ta đã đổi thành một nỗi ăn năn hối lỗi và sự nhún nhường – Anh thật có lỗi… ý anh muốn nói là các cô gái trong công viên, em biết đấy, dĩ nhiên là, mà em không biết đâu, thôi vậy…
– Nếu anh thấy không muốn thì thôi đừng nói đến chủ đề đó nữa. Dĩ nhiên em biết chứ. Thôi nào, anh hãy kể cho em nghe về những người đi qua đi lại kia đi, xúm đông xúm đỏ trên những con đường kia kìa. Họ đi đâu? Sao họ vội vã thế? Họ có hạnh phúc không?
Chàng thanh niên liền bỏ ngay cái vẻ mặt ve vãn đó đi. Giờ là lúc anh ta ở trong tâm trạng chờ đợi, không hiểu mình sẽ đóng vai gì đây.- Thật thú vị khi theo dõi họ – chàng ta trả lời, dựa vào tâm trạng của nàng – Thật là một tấn trò đời tuyệt vời. Một số đi ăn tối, còn một số thì… đi đến những nơi khác nhau. Không hiểu họ có những mảnh đời ra sao nữa.
– Em không… – cô gái nói – em không tò mò đến thế đâu. Em đến ngồi ở đây là vì chỉ muốn mình được ở gần những trái tim thổn thức, bình thường mà vĩ đại của con người mà thôi. Phần cuộc đời của em được hun đúc ở nơi mà không bao giờ có ai biết được nhịp đập của trái tim mình. Anh có thể đoán được là tại sao em lại nói với anh như thế không, hả anh…?
– Anh là Parkenstacker – chàng thanh niên đáp lại. Rồi trông anh ta có vẻ hào hứng và tràn đầy hy vọng.
– Không phải – cô gái nói, giơ một ngón tay mảnh mai lên và hé nở nụ cười – Anh thường nhận ra điều đó ngay cơ mà. Không thể giữ tên của mình kín như bưng, không ai hay biết được. Thậm chí cả chân dung của mình nữa. Cái khăn voan và mũ này của người hầu gái của em đưa cho em nhằm để em giấu đi tung tích của mình. Nhẽ ra anh phải nhìn thấy người tài xế nhìn chằm chằm vào đó khi anh ta nghĩ rằng em đã không trông thấy. Thật ra có năm đến sáu cái tên nằm trong đền thờ các thánh, và tình cờ khi khai sinh tên em lại thuộc về một trong những cái tên đó. Em nói với anh, anh Stackenpot ạ…
– Anh tên là Parkenstacker – anh chàng đó rụt rè nói chữa lại.-
– … Anh Parkenstacker ạ, vì em muốn nói chuyện, dù chỉ một lần, với một con người tự nhiên… một con người không bị vẻ hào nhoáng đến ghê tởm của sự giàu sang và của cái gọi là đẳng cấp cao xã hội làm cho hư hỏng đi. Ôi! Anh không biết được là em đã chán ngấy cái đó như thế nào… đó là tiền, tiền và tiền! Và tất cả đám đàn ông vây quanh em, nhảy nhót cứ như một lũ con rối nhỏ xíu được nặn ra cùng một kiểu mẫu. Em chán ngấy sự vui chơi đàng điếm, vàng bạc châu báu, ngao du, giới thượng lưu, sự xa hoa đủ loại.
– Lúc nào anh cũng nghĩ rằng tiền hẳn phải là một vật tuyệt đẹp mới phải – chàng thanh niên đánh bạo ngập ngừng nói.
– Người ta cần tài năng chứ anh. Nhưng khi anh đã có muôn triệu đồng rồi thì…! – Cô gái kết thúc câu nói, với cử chỉ đầy tuyệt vọng – Ôi, thế thì đơn điệu lắm, tẻ nhạt lắm! – Cô nói tiếp – Thật chán ngấy. Nào xe ô tô tiệc tùng, đi xem hát, khiêu vũ, những bữa tối, với tất cả sự vàng son dư thừa che phủ lên đó. Đôi lúc tiếng viên đá rơi lanh canh trong ly rượu sâm-banh gần như khiến cho em điên lên đấy.Anh chàng Parkenstacker nhìn nàng với vẻ hứng thú chân thật.
– Anh luôn thích được đọc và nghe nói về những cách sống của những người giàu sang và thượng lưu. Anh nghĩ mình chỉ là một kẻ hèn kém thôi. Nhưng anh lại thích đưa thông tin chính xác. Giờ anh đã nghĩ ra một điều rằng rượu sâm-banh được làm lạnh trong chai, chứ không phải cho đá vào trong ly rượu nữa.
Cô gái cất tiếng cười nghe như tiếng nhạc, tỏ ra thích thú thật sự.
– Anh nên biết – nàng giải thích với một giọng nghe có vẻ khoan dung – rằng chúng ta thuộc tầng lớp vô tích sự nên phụ thuộc vào việc từ bỏ tiền lệ chỉ vì sự vui thú của chúng ta mà thôi. Ngay lúc này đây cho đá vào rượu sâm-banh chỉ là thị hiếu thời thượng nhất thời. Ý tưởng đó bắt nguồn từ chuyến thăm của hoàng tử xứ Tartary trong bữa tiệc tại cửa hàng Waldorf. Rồi chẳng mấy chốc lại phải nhường chỗ cho thói cầu kì khác. Có khác gì bữa tiệc vào tuần này trên Đại lộ Madison đâu khi người ta đặt lên mỗi đĩa của khách một chiếc găng tay nhỏ con màu xanh lục để khách đeo vào mỗi khi dùng món dầu ô-liu.
– Ra thế – chàng thanh niên nhận ra một cách nhún nhường – Những cách lòe đặc biệt đó của họ đâu có quen thuộc với giới bình dân.
– Đôi lúc – cô gái nói tiếp, nhận ra sự thú thật về sự sai lầm của chàng qua việc chàng hơi cúi đầu – em cứ nghĩ rằng nếu một lúc nào đó em yêu người đàn ông nào thì chắc anh ấy phải thuộc tầng lớp thấp hèn, phải là một công nhân, chứ không phải là kẻ ăn không ngồi rồi. Nhưng rõ ràng em lại cứ thấy mình nghiêng mạnh về việc đòi hỏi người đó phải là người có đẳng cấp và giàu có. Ngay lúc này đây em đang bị bủa vây bởi hai loại người đó. Một là Đại Công tước của một công quốc Đức. Theo em, người đó đang có hoặc đã có vợ ở nơi nào đó đã bị tính khí tàn bạo và độc ác của ông ta làm cho điên. Một người là Hầu tước Anh, vô cùng ghẻ lạnh và vụ lợi mà em thấy thích hơn so với sự độc ác của ngài Công tước. Vậy không hiểu điều gì đã thôi thúc em nói với anh những điều như thế, hả anh Packenstacker ?
– Tên anh là Parkenstacker – chàng thanh niên thở nhẹ – Thật ra em không thể biết là anh đánh giá cao những lời thổ lộ của em như thế nào đâu. Cô gái ngắm nhìn anh ta một cách bình thản, không biểu lộ tình cảm gì, như thế là hợp với vị thế xã hội của họ.
– Anh theo nghề kinh doanh gì hả anh Parkenstacker? – nàng hỏi.
– Một nghề khiêm nhường ấy mà. Nhưng anh hy vọng là sẽ nổi trội trên thế giới. Có phải em đã nói một cách hào hứng rằng em có thể yêu một người có địa vị xã hội thấp hèn phải không?
– Đúng là em có nói thế. Nhưng mà em nói là “có khả năng” thôi. Anh biết là còn có vị Đại Công tước và vị Hầu tước cơ mà. Vâng; em chẳng bao giờ lại muốn người đàn ông đó quá thấp hèn như đã nói.- Anh làm việc trong một tiệm ăn – Parkenstacker nói.Cô gái hơi rụt người lại.- Không phải là hầu bàn chứ? – nàng nói, một chút nài nỉ – Lao động là vinh quang, nhưng… làm công việc hầu hạ, anh biết đấy… như hầu phòng và…- Anh không phải là hầu bàn. Anh là thủ quỹ ở… trên phố đối diện với phía bên kia công viên, có một biển điện tử đề Nhà Hàng. Anh làm thủ quỹ cho cửa hàng ăn đó đấy, em có nhìn thấy không?Cô gái nhìn vào chiếc đồng hồ tí hon gắn trên một cái vòng xuyến được bài trí thật dồi dào trên cổ tay trái của nàng, rồi vội đứng dậy. Nàng nhét cuốn sách vào cái túi lưới sáng lấp lánh giắt ở ngang thắt lưng, tuy cuốn sách lại quá to so với cái túi.
– Sao anh không làm việc? – nàng hỏi.
– Anh làm ca tối – chàng nói – còn một tiếng đồng hồ nữa mới đến phiên anh làm. Anh có hy vọng được gặp lại em không?
– Em cũng không biết nữa. Có thể, nhưng chưa chắc lúc ấy em còn có hứng. Thôi em phải đi vội đây. Bữa tối đang chờ, rồi sau đó lại phải đi xem kịch, chỗ ngồi ở một lô trong rạp hát… à, mà vẫn chỗ ngồi cũ. Anh có nhìn thấy chiếc ô tô ở góc trên cùng trong công viên khi anh đến không? Chiếc có màu trắng ấy.
– Có phải chiếc xe có bộ hộp số màu đỏ không? – chàng hỏi, nhíu mày ra chiều suy nghĩ.
– Vâng, em lúc nào cũng đi chiếc xe đó. Pierre đợi em ở đó. Anh ấy nghĩ là em đang đi mua hàng trong cửa hàng tổng hợp bên kia quảng trường. Anh hãy mường tượng về mối quan hệ trong cuộc sống mà trong đó mình phải đi lừa cả tài xế của mình đấy. Thôi em chào anh nhé.
– Nhưng trời tối rồi – Parkenstacker nói – mà công viên thì toàn những kẻ thô lỗ. Anh có thể đi cùng em…?
– Nếu anh còn một chút tôn trọng nguyện vọng của em thì mong anh ngồi yên tại chỗ trong vòng mươi phút sau khi em đi khỏi đã – Nàng nói – Em không có ý gì lên án anh đâu, nhưng anh cũng nên hiểu rằng ô tô nói chung đều có gắn chữ cái tên của chủ xe được lồng vào nhau. Thôi, một lần nữa em xin chào anh.
Nàng đi nhanh vun vút và đường hoàng qua bóng tối. Chàng thanh niên nhìn theo dáng hình duyên dáng của nàng khi nàng đi đến vỉa hè ở ngay bìa công viên và đi ngược lên đến chỗ góc phố có chiếc ô tô đỗ. Rồi chàng ta liền nhanh chóng lẻn đi theo, luồn qua các hàng cây và bụi cây trong công viên dọc theo con đường song song với con đường nàng đang đi, luôn để mắt đến nàng.
Khi nàng đi đến góc phố, nàng ngoái đầu lại liếc nhìn chiếc ô tô, rồi đi qua, tiếp tục sang phố. Đứng núp thật kín sau một chiếc xe đang đứng đó, chàng thanh niên đi theo chuyển động của nàng, không rời mắt. Khi đi xuôi xuống vỉa hè của phố đối diện với công viên, nàng đi vào cửa hàng ăn có biển quảng cáo sáng đèn đó. Nơi này là một trong những nơi sáng rực rỡ, tất cả đều sơn trắng và cửa kính lấp lánh. Tại đây người ta có thể ngồi ăn một bữa ăn rẻ tiền mà ai cũng thấy rõ. Cô gái đi sâu vào trong cửa hàng khuất hẳn ở tận cuối phòng, tại đây nàng xuất hiện, đầu không đội mũ và mạng voan.
Bàn của thủ quỹ ở ngay phía trước. Một cô gái tóc đỏ ngồi trên chiếc ghế đẩu tụt xuống, nhìn thẳng vào đồng hồ. Cô gái trong bộ đồ xám leo lên thế chỗ vào đấy.
Chàng thanh niên thọc tay vào túi quần và đi từ từ trở lại vỉa hè. Tại góc phố, bàn chân chàng ta đá phải một cuốn sách nhỏ, khiến nó văng đi đến tận mép bãi cỏ. Trên bìa cuốn sách chàng ta nhận ra đó chính là cuốn sách mà cô gái vừa đọc lúc nãy. Chàng ta nhặt lên một cách thờ ơ và thấy đầu đề cuốn sách là Tân Nghìn Lẻ Một Đêm, tác giả là Stevenson. Chàng ta lại quẳng cuốn sách xuống bãi cỏ, đi thơ thẩn một cách lưỡng lự một lúc. Rồi chàng ta đi vào chiếc ô tô, tựa người vào ghế và nói ngắn gọn với người lái xe:
– Đi Câu lạc bộ, Henri.
THÂN TRỌNG SƠN
Dịch và giới thiệu
Tháng 3 / 2026
Nguồn: https://americanliterature.com/author/o-henry/short-story/while-the-auto-waits
