PHONG TỤC CÂY NÊU NGÀY TẾT & NGÀY LỄ DỰNG NÊU VÀ KHAI HẠ

Ngày đăng: 17/02/2026 07:32:00 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)

Sắp đến đêm Trừ Tịch và lễ Dựng Nêu Tết Bính Ngọ 2026 trong dịp Tết cổ truyền của Việt Nam, tôi xin một lần nữa thân kính chúc toàn thể quý thầy cô và quý anh chị em đồng môn Tống Phước Hiệp một năm mới an khang, thịnh vượng, vạn sự cát tường như ý. Nhân đây, tôi xin nói một chút về Cây Nêu và lễ Dựng Nêu cũng như lễ Khai Hạ (Hạ Nêu) trong ngày Tết cổ truyền của dân tộc. Đối với dân tộc Việt Nam cũng như một số các dân tộc vùng Đông Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Mông Cổ… Tết chẳng những là ngày Hội quan trọng nhất của các dân tộc nầy, mà còn cho nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tại Việt Nam, người ta chuẩn bị ăn Tết trong suốt tháng chạp. Dân gian thường có những tục lệ khử trừ những ma quái quấy phá trong năm cũ để có được một năm mới an khang thịnh vượng hơn. Nhất là trong đêm “Trừ tịch”, người ta tin vào một số tập tục có thể giúp họ trừ hết những “ma quỷ” hay những việc “không hay” của năm cũ để bắt đầu một năm mới an khang thịnh vượng hơn. Trong ước nguyện “khử trừ những việc xấu và nghênh tiếp việc tốt” dân gian mình còn có mỹ tục trồng cây nêu trước sân nhà vào đêm trừ tịch. Cây nêu được dựng lên trong đêm trừ tịch và được giữ trong tám ngày, vì đến ngày mồng bảy thì được hạ xuống.

Cây Nêu thường là một cây tre cao (thường là nguyên cây), được cắt bỏ lá, ở trên ngọn người ta thường cột một lá bùa màu đỏ, dưới lá bùa là một giỏ tre nhỏ đựng trầu cau và muối gạo. Như trên đã nói tục lệ dựng nêu là để trừ khử tà ma đến địa phận nhà mình quấy phá. Theo truyền thuyết trong dân gian thì tục dựng “nêu” đã có từ lâu lắm, có lẽ trước thời các Vua Hùng dựng nước, nghĩa là trên 5.000 năm về trước. Thuở ấy dân mình chỉ mới biết sống hợp quần nên hay bị bọn quỷ đến quấy phá. Thời đó dân mình rất khốn khổ vì bao nhiêu tài nguyên thiên nhiên cũng như mùa màng thu hoạch đều bị bọn quỷ cướp đi. Nhứt là thời ấy dân chúng mới biết khai hoang trồng lúa, rừng mới khai rất phì nhiêu nên lúa hạt rất to và rất tốt. Bọn quỷ năm nào cũng vơ vét hết sạch lúa thóc của dân chúng nên dân tình đầu trên xóm dưới ai cũng ta thán và hết lời chưởi rủa loài quỷ ấy. Những lời ta than đó đã làm động lòng Trời, nên Trời sai một vị thần mà sau này chúng ta gọi là “Thần Làng” xuống giúp đỡ dân tình chống lại loài quỷ.

Khi xuống đến nơi, Thần Làng bảo dân: “Các con hãy đến nói với bọn quỷ là loài thực vật gồm có rễ, thân và ngọn. Như vậy xin các ông bà quỷ hãy cho chúng tôi biết trong ba phần đó ông bà muốn phần nào, chúng tôi sẽ sẵn sàng chừa phần ấy theo lệnh của ông bà, chứ ông bà khỏi nhọc công đến quấy phá chúng tôi.” Nghe xong bọn quỷ cho biết là chúng sẽ lấy phần ngọn và chúng bảo dân chúng phải dâng hết các phần “ngọn” cho chúng chứ không được giấu giếm một cái ngọn nào. Dân chúng về kể lại cho “Thần Làng” nghe tự sự, thần bèn mách dân chúng nên ngưng trồng lúa vì hạt lúa nằm hết ở phần ngọn. Thần khuyên dân chúng nên trồng khoai lang và khoai mì, vì phần củ ăn được thì nằm lấp dưới đất và phần ngọn thì chẳng có gì đáng kể, chỉ là những cây và lá. Sau vụ canh tác “khoai lang khoai mì”, dân chúng đem tất cả cành lá khoai giao cho bọn quỷ, còn phần củ thì thâu hoạch đem về nhà. Năm đó bọn quỷ tức tối vì thua mưu trí mà Thần đã bày vẽ cho dân. Liền sau đó bọn quỷ tức tối kéo đến ra điều ước ngay là vụ mùa tới các người phải giao hết phần củ rễ cho chúng ta, còn các người chỉ được hưởng phần ngọn. Thần Làng lại bày cho dân chúng trồng lúa, để rồi cuối năm đem toàn bộ rễ lúa giao cho bọn quỷ, và dân chúng thâu về phần ngọn trong đó có những chùm lúa chín thơm tho. Lại thua trí dân chúng lần nữa, bọn quỷ tức tối, chúng bèn kéo đến ra lệnh cho dân chúng là vụ mùa tới dân chúng phải giao nộp cho chúng cả phần ngọn lẫn phần gốc rễ, dân chúng chỉ được hưởng phần thân mà thôi. Thần Làng lại mách dân Việt trồng bắp (ngô) vì trái bắp nằm ở phần thân, còn phần ngọn và rễ chẳng có gì hết. Thế là bọn quỷ lại một lần nữa thua trí dân Việt. Chúng không còn muốn bàn luận hay điều đình gì nữa với dân Việt, mà chúng ra lệnh cho cả bọn quỷ tấn công cướp phá dân làng để cướp phá tất cả khoai, lúa và bắp mà dân Việt đã thâu hoạch được trong những mùa vụ vừa qua. Chúng còn biết là Thần Làng theo giúp dân Việt nên chúng cho bọn lâu la giả dạng làm dân trà trộn với dân Việt để tìm xem Thần Làng khắc kỵ thứ gì. Dân Việt cũng không vừa, biết âm mưu của bọn quỷ, dân chúng bèn phao tin là Thần Làng sợ “xôi”, sợ “chuối”. Ngược lại, Thần Làng cũng biết bọn quỷ rất sợ máu chó và máu dê. Nghe tin bọn quỷ chuẩn bị thật nhiều xôi và chuối, trong khi dân Việt cũng chuẩn bị thật nhiều máu chó và máu dê. Hai bên đang gờm nhau cho một cuộc chiến sống còn.

Việc gì đến phải đến, bọn quỷ kéo nhau đến tấn công dữ dội vào Thần Làng bằng từng đợt xôi và chuối mà chúng đã chuẩn bị sẵn từ trước, trong khi dân Việt cũng tấn công bọn quỷ bằng từng đợt máu chó và máu dê. Dĩ nhiên là loài quỷ phải chạy dài bởi những loạt máu dê máu chó, còn dân Việt thì thâu về không biết là bao nhiêu chiến lợi phẩm “xôi chuối” của bọn quỷ.

Sau trận thảm bại này, bọn quỷ cho lâu la đến gặp dân Việt và Thần Làng để xin thương lượng. Bọn quỷ hứa là không bao giờ dám đến quấy phá dân Việt nữa, nhưng xin dân Việt cho chúng một mảnh đất nhỏ để làm ăn sinh sống. Thần Làng biết bọn quỷ đang tìm cách “ngụy hòa” chờ khôi phục lực lượng để tiếp tục tấn công dân chúng nên Ngài đã đại diện dân Việt trả lời: “Dân Việt hiểu rõ thiện chí của đám quỷ các người. Để đáp lại thiện chí này, dân Việt chỉ xin giữ một mảnh đất nhỏ, còn lại bao nhiêu thì nhường hết cho đám quỷ các người.” Như vậy là đã có lời giao kết giữa dân Việt và bọn quỷ. Vị Thần Làng bèn cởi chiếc áo mình đang mặc ra để xác định lãnh thổ của dân Việt. Thần tung áo lên trời, áo càng lên cao thì chiếc bóng của nó càng lớn, và khi bóng của chiếc áo kia đến đâu là bọn quỷ phải lui đến đấy. Bọn quỷ phải lùi và lùi mãi đến tận biển Đông. Cuối cùng Thần Làng thâu áo lại. Bọn quỷ ở biển Đông thiếu ăn, thiếu mặc và bị rét mướt quanh năm. Vì vậy bọn quỷ lại đến xin với Thần Làng là hàng năm cho phép chúng về đất liền kiếm ăn và thăm lại mồ mả của bọn tổ quỷ. Vì lòng nhân đạo nên Thần Làng bằng lòng.

Như vậy là từ dạo đó, cứ mỗi độ Xuân về Tết đến là dân Việt nhớ lời Thần Làng, mở cửa cho bọn quỷ về thăm đất liền và kiếm ăn, nhưng không quên cột lá bùa tượng trưng cho chiếc áo của Thần Làng treo trên cành tre, cao khoảng 5 hoặc 6 mét, để nhắc nhở lũ quỷ: “Chúng ta cho phép các ngươi về thăm đất liền, nhưng chớ nên gian xảo. Đó! Tấm áo của Thần Làng hãy còn đó ! Thần sẽ sẵn sàng trừng phạt lũ bây nếu lũ bây không giữ lời.” Vì lòng nhân đạo, khi nghĩ đến cảnh đói khổ của bọn quỷ, dân chúng thường treo dưới lá bùa một giỏ tre đựng trầu cau, gạo và muối, ý muốn thí cho bọn quỷ vài bữa ăn trong dịp Tết. Có nơi người ta treo bó lá dứa, khung tre nứa dán giấy màu xanh đỏ, lá bùa hình bát quái, vàng mã, câu đối hoặc hình con vật bằng đất nung, vân vân. Ở một số nơi khác, người ta lại treo túi nhỏ đựng trầu cau và ống sáo, chiếc khánh nhỏ (chuông gió), những miếng kim loại nhỏ, lá thiên tuế, lông gà, củ tỏi. Khi có gió thổi, chiếc khánh và những miếng kim loại phát ra tiếng leng keng như tiếng phong linh. Chiếc khánh cũng đồng âm với “khánh” có nghĩa là “phước” với ý nghĩa năm mới sẽ đem lại nhiều phước cho gia đình. Dưới chân cây nêu có rắc vôi bột và vẽ hình cung tên.

Dân Việt Nam chúng ta từ ngàn xưa, đã biết “Dĩ nhân báo oán” ngay cả với bọn quỷ dữ một thời đã gieo rắc giông tố bão bùng cho dân chúng. Vào ngày Lễ Tết, dân chúng các nơi đều dựng nêu vào buổi chiều đêm “Trừ Tịch”, cũng có nơi dựng nêu sớm hơn, khoảng 23 tháng chạp, lúc đưa Ông Táo về trời. Trong sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ có ghi về tục dựng cây nêu vào ngày cuối năm như sau: “Bữa trừ tịch (tức ngày 29 hoặc 30 tháng chạp) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là “lên nêu”… có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ”. Ý nghĩa của ngày dựng nêu là ngày chính thức cho phép bọn quỷ có thể đi đó đi đây để thăm viếng mồ mả của tổ quỷ và ăn uống những vật thực mà người dân cúng thí cho. Rồi đến ngày mồng bảy là “hạ nêu”, còn gọi là Lễ Khai Hạ, nghĩa là sau ngày đó bọn quỷ không còn được phép đi lại tự tại như trong bảy ngày trước nữa. Thực chất là chấm dứt những ngày nghỉ ngơi trong dịp Tết và trở lại những sinh hoạt thường nhật. Ngày nay, tuy phong tục dựng cây nêu đã không còn phổ biến nhưng dân gian vẫn tiến hành lễ khai hạ như một phần của nghi lễ Tết. Trước khi hạ cây nêu, chủ nhà đặt một cái bàn nhỏ, trên bày một đĩa dưa hấu, một ít hương, hoa… ngay gốc cây nêu ngụ ý báo cáo với trời đất là gia đình chúng tôi đã ăn Tết vui vẻ. Sau đó, rung cây nêu cho rụng hết lá khô thì hạ cây nêu xuống và đem bùa nêu treo ở cửa cái (cửa chính của ngôi nhà). Với ý nghĩa quan trọng của ngày Lễ tạ nên ngày làm Lễ tạ được quan niệm cũng là một ngày Tết: Tết Khai Hạ. Đối với nhiều gia đình, nhất là các gia đình tại các thôn làng Miền Bắc xưa, ngày Lễ Khai Hạ quan trọng chẳng kém lễ Giao thừa. Vì vậy, trước khi dâng hương Lễ tạ, người xưa người ta cũng có đốt pháo mừng. Ngày Xuân nhắc chuyện “cây nêu” vừa để cho qua những buổi trà dư tửu hậu, mà cũng vừa nhắc lại cho cháu con chúng ta tánh nhân bản của người Việt Nam từ ngàn xưa, đối với loài quỷ mà dân tộc mình còn lấy ơn báo oán, huống là đối với người đồng chủng. Từ ngàn xưa ông bà tổ tiên chúng ta đã hết sức độ lượng và nhân bản ngay với những kẻ đã từng thù ghét hay hãm hại mình. Thật là một đặc tánh cao quý của người dân Việt!

NGƯỜI LONG HỒ

Tài liệu tham khảo:

1) Những phong tục về Tết như Lễ Dựng Nêu và Lễ Khai Hạ (hạ nêu) trong bài viết nầy được dựa theo lời kể của ông ngoại Trần Văn Tiếng và ông chú Ba Trần Văn Hương của người viết bài nầy.

2) Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác