Xem tiếp

" />

Nhà Ngoại Tôi*

Ngày đăng: 5/02/2013 05:40:52 Chiều/ ý kiến phản hồi (11)

(Viết theo ký ức thuở những năm 1946-1954 để đở nhớ nhà nhân dịp Tết Quý Tỵ)

Nhà của bà ngoại tôi ở Rạch Mương. 
Rạch Mương là tên gọi của con sông nhỏ của Tân Thắng/Tân Quy, một ấp thuộc xã Tân Long Hội, Huyện Mang Thít (và theo thời cuộc có lúc là Minh Đức hoặc Cái Nhum, có lúc gọi là quận khi là huyện), Vĩnh Long. 
Nếu hướng từ ngọn ra vàm thì hai con rạch láng giềng cách nhau một cánh đồng: bên mặt có rạch Bà Phong, bên trái là rạch Bầu Thiềng. Đến vàm mà vượt sông Mang Thít thì gặp bờ bên kia là làng Tân An Luông, Huyện Vũng Liêm. Trên con đường Vĩnh Long đi Trà Vinh(QL 53), tại một nơi gọi là Ngả ba Cái Nhum có con lộ rẻ trái (TL 903) đi đến quận lỵ Cái Nhum; thời Pháp thuộc, những đồn bót thiết lập được đánh số thứ tự từ 1 đến 8 kể từ ngả ba Cái Nhum cho đến quận lỵ. Theo thời gian người dân quen dùng tên những đồn này như những địa danh. Tỉnh lộ này cắt Rạch Mương tại đồn số 4. 
Có những địa danh khác quanh vùng như Bình Phước, Hòa Tịnh, Nhơn Phú, Mương Khai, Gò Ân, Cầu Mới, Quang Phú, Ba Kè, Hòa Hiệp, Bà Tảng, Long Hiệp, Rạch Lá, Đồng Bé…, mỗi nơi tôi đều có ít hoặc nhiều kỷ niệm;hình như chúng còn nằm yên đâu đó trong những ngỏ ngách của tim tôi. 

Rạch Mương chảy uốn khúc như con rắn với hai bờ phần lớn chiếm lỉnh bởi dừa nước lẫn với ô rô, cóc kèn dầy kịt…mà lúc cấp bách người dân thường dùng làm nơi trốn tránh bọn lính Pháp bố ráp. Xung quanh lá ô rô có gai nhọn cho nên bọn nhỏ chúng tôi thường dùng chơi trò“đá lá”: ném mạnh lá của mình vào lá của đối phương, nếu gai lá đâm dính là thắng và ngược lại, thua thì bị cú đầu hay bị bún tay (kẻ thua nắm các ngón tay lại, kẻ thắng dùng ngón tay của mình bún lên các chỗ u của lóng tay địch càng mạnh càng tốt). 


 
Ô rô*

Thuở ấy bà con dùng xuồng tam bảng làm phương tiện giao thông là thuận tiện nhất vì đường bộ hai bên bờ sông chỉ có từng đoạn ngắn là lối mòn với cầu khỉ thô sơ cho một cụm nhỏ gồm ba bốn căn nhà lá nghèo nàn. Đi bộ từ cụm nhà này đến cụm kế luôn luôn phải lội ruộng, đôi khi phải lội qua một cái rạch rộng hai, ba thước. 


 
Xuồng tam bảng* 

 


 
Xuồng ba lá *(khác với tam bảng)

Là vùng đất trủng thấp nên vào mùa nước nổi nền nhà nào cũng bị ngập; ngập từ mắc cá đến đầu gối tùy theo từng nhà. Hiếm hoi lắm mới có một căn không ngập nước . 
Nhà bà ngoại của tôi là nhà lá ba căn; nhà lá ba căn cũng có hạng lắm nơi vùng quê. Nhưng với bà ngoại tôi thì rớt hạng vì ông ngoại tôi đã qua đời đã lâu, bà goá bụa một mình với đôi công đất ruộng phải mướn cấy mướn gặt thì thu hoạch đủ ăn chứ có dư tiền đâu để tu bổ. Lâu lâu bán thêm nải chuối, buồng cau, cặp dừa khô, bà đủ mua nước mắm, gói trà chớ không thể làm giàu được.Nền nhà bằng đất. Theo năm tháng được những bàn chân trần của chúng tôi lướt trên mặt đất nên nền nhà trở thành láng mịn, sự xoáy mòn không đều làm lối đi trong nhà nổi “u nần” thì bà con cho là “vải con rồng”mà dân quê tin rằng đó là dấu hiệu báo trước chủ nhà sẽ làm ăn phát đạt. Thế nhưng bà ngoại tôi đến chết vẫn sống trong cảnh nghèo khổ. 
Nhà ngoại tôi cũng không thoát được cảnh nước ngập, thường thường là đến khoảng mắc cá. Ngập như vậy cũng đủ cho nền nhà “lên bùn” khi nước xuống và bàn chân của chúng tôi cũng bị “nước ăn”. Giữa những ngón chân bị nhiễm trùng khiến ta cảm thấy ngứa ngáy, lỡ loét dù không nhiều nhưng rất khó chịu bởi chân ngâm thường xuyên dưới nước dơ bẩn. Không rửa sạch và lau khô sau đó cũng đã là nguyên nhân của bịnh ngoài da này mùa nước nổi. Thoa nước hòa tan bởi phèn chua (cũng thường dùng để lóng nước)và kết hợp thoa thêm bằng ruột trái cau để trị bịnh nước ăn. 
Mùa nước nổi đã giới hạn không gian sống của những chú chuột. Chúng thường xuất hiện trên những lùm cây và đã trở thành mục tiêu săn bắt cho đám trai làng. Dùng những cây chỉa: cán bằng cây tầm vong nhỏ vừa nắm tay gắn ở đầu cây một mủi kim loại mài nhọn có ngạnh ngược với hướng đâm nên khi bị đâm là chuột vô phương thoát được. Dạo ấy tôi con nhỏ nên tháp tùng với các chú các anh trên những chiếc tam bảng chèo đi săn chuột mà nhiệm vụ của tôi là “chỉ chọt” nếu lanh mắt phát hiện được nơi các chàng chuột ẩn núp và thu những chiến lợi phẩm bỏ vào giỏ. Thịt chuột đồng sau khi làm sạch (đốt/ lột da/ bỏ bộ đồ lòng…) hoặc được băm nhỏ xào với lá cách xúc bánh tráng, hoặc ướp ngũ vị hương với lá xả đem nướng là món ăn khoái khẩu của dân đồng áng. Nhớ lại những ngày cuối tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm tôi bị kẹt lại nhiệm sở (nơi làm việc) hai ngày vì chiến cuộc khốc liệt nên không thể ra ngoài để mua thức ăn. Chú lao công săn sóc cơ sở mà xung quanh là đồng ruộng, đã hảo tâm tiếp tế cho chúng tôi một bửa cơm với thịt chuột nướng thật thơm ngon, càng cảm thấy đậm đà hương vị hơn khi chúng tôi đang đói meo.

Bà ngoại tôi sở hửu một thửa đất hình chữ nhật khoảng hai công vườn và vài công ruộng. Mé sông trước nhà là đám dừa nước cũng như ở cuối mảnh đất ở phía sau nhà xa xa được gọi là “đầu đất”; dừa nước là một nguồn lợi phụ như chuối, dừa, cau…cộng với nguồn lợi chính là lúa để nuôi sống cho gia đình ngoại. Dừa nước được dùng lợp nhà, dừng vách…nếu những năm không xài thì bán cho người ngoài. 


 
Dừa nước* 

 
Buồng dừa nước*

Tôi thích nhất là những “buồng dừa nước” tức là những quày trái vì chúng cho một món ăn khoái khẫu. Trái dừa (coconut) có mấy thời kỳ: non, nạo, cứng cạy và khô thì trái dừa nước cũng vậy. Khi trái dừa nước ở trạng thái nạo, như người con gái đến tuổi tròn trăng, chẻ đôi ra ta sẽ có một thức ăn tinh khiết ở bên trong: màu trắng đục, thơm, “ngòn ngọt”, dòn, lớn vừa đủ cho một “miếng lũm”…Mỗi lần tôi theo dõi thấy quày nào đến độ “tròn trăng” (nhìn, đoán và lấy một trái chẻ ra để kiểm chứng) thì chặt lấy để “chén”. Bà ngoại tôi thường nhắc nhở: nhớ chừa một số …để gây giống (buồng dừa nước để già đến một lúc nào đó trái sẽ rụng xuống đất rồi từ từ nẩy mầm đâm chồi). 
Trong những cuộc đố vui tôi không quên câu đối liên quan đến đề tài dừa: 

Nhỏ thời xuất giáo đâm trời 
Lớn thì hứng nước chịu đời cho con.
 (Xuất mộc)

Trong một bụi dừa nước: xung quanh là những bẹ dừa đã lớn, gìa nhất ở bên ngoài, tất cả xoè ra còn chính giữa là mầm lá non tượng hình dạng như cây giáo (vũ khí) nhọn hướng lên trời. 
Nước dâng cao rồi rút xuống giữa các bẹ dừa vẫn còn nước sẽ là nơi trú ngụ của những chú cá bóng no tròn: cá bóng dừa. Một thức ăn mộc mạc, đơn giản nhưng khoái khẩu khi nấu cá thành một nồi canh rau hoặc một mẻ kho khô . 
Đám dừa nước trước nhà có hai khoảng trống: một dùng làm bến sông để đậu tam bảng, một là đường nước dẫn ra / vào cho một “cái xẻo” hình tròn mà đường kính khoảng năm, sáu thước, nơi có một cái “sàn nước” làm chỗ rửa chén, giặt gyạ….Kế bên sàn nước luôn có hai cái lu lớn chứa nước sông lóng phèn dùng cho nhu cầu nấu nướng. Ngoại tôi có hai cái lu khác nữa chứa nước mưa dùng để uống. Mỗi lu có một cái gáo ( làm bằng gáo dừa khô có tra cán) để múc nước. 
Thuở ấy nguồn thủy sản rất dồi dào, trên ruộng cũng như dưới sông. Nơi cửa cái xẻo nói trên ngoại tôi mướn người làm một cái đăng và cái đó đặt thường trực để những khi “cực ăn” bà dùng để bắt cá, loại cá thường có nhiều là lòng tong: Khi nước lớn bà rải cám để nhử cá vào ăn. Khi thấy đã có nhiều cà thì bà khép cái đăng lại và đơn giản chờ nước ròng, xẻo cạn nước thì đàn cá …như nằm trên thớt: trong cái đó hay phơi mình trên đáy xẻo . 
Người xưa thường nói: Chồng như cái đăng, vợ như cái đó. Thời xưa thì vậy nhưng thời buổi bây giờ thì sao nhỉ? 
Vùng đất này thuở Pháp thuộc thì thực dân coi như là vùng địch. Thỉnh thoảng chúng mở những cuộc bố ráp và nhân dịp này bọn lính commando gồm người Việt lẫn dân Phi Châu cướp bóc dân chúng và đôi lúc xảy ra chuyện hảm hiếp phụ nữ. Chúng vơ vét bất cứ thứ gì : quần áo, tiền bạc, gà vịt, thức ăn… Nêú vào dịp Tết thì chúng lấy cả dưa giá, cá kho, bánh phồng, bánh tráng, bánh ít, bánh tét…Có lần ngoại tôi ném giấu những đòn bánh tét vào lu chứa nước rồi sau đó bà quên hẳn. Cả tuần lễ sau bà sực nhớ ra nghĩ rằng bánh tét sẽ hư nhưng ngạc nhiên bánh vẫn còn ăn được ngon lành. Bố ráp là một khổ nạn cho dân thời bấy giờ, những thanh niên phụ nữ phải chạy trốn, người già cả thì ở lại “giử nhà” với tai họa do súng đạn, đánh đập có thể giáng xuống bất cứ lúc nào. 
Tôi còn nhớ một hoạt cảnh “lỡ khóc lỡ cười” đã xảy ra chứng tỏ tinh thần người dân hoảng sợ cao độ trong tình trạng vô cùng nghiệt ngã vì chiến tranh. Ngoài những lần bố ráp chính quy, thỉnh thoảng bọn Pháp đột kích bằng tàu sắt đổ bộ loại nhỏ mà người dân gọi là “tàu đầu bằng”. Khi phát hiện tàu Pháp là lúc chúng đã đến nơi rồi vì chúng cho tàu chạy chậm với tiếng máy nổ nhỏ, dân chúng chạy trốn ra sau ruộng mang theo bất cứ thứ gì có thể. Có lần má tôi hoảng hốt chạy trốn cầm trên tay độc nhất một đôi đủa bếp…(dùng cho việc bới cơm). 
Vườn của ngoại tôi thuộc loại già nua, được trồng bởi đủ lại cây không có giá trị bao nhiêu như xoài chuối, dừa, cau, mận, tứ quý lẩn với những cây bàng (không có lợi ích, còn gọi là ngô đồng thì phải ?), cây mù u, tầm vong… Tất cả chúng đã cằn cỗi như tuổi già của ngoại, mỗi loại có một ít và cho trái chẳng có bao nhiêu. Nhà không có đàn ông, tôi là thằng con nít, nên vườn tược như rừng hoang, ruộng lúa ngoại và má tôi cũng phải mướn ngưòi phụ giúp nên lợi tức hằng năm chỉ đủ sống qua ngày. 
Cây mù u (loại cây này bây giờ có còn không?) là loại cây gổ tốt khi cây đã già, người dân quê thường cưa thành ván để đóng tam bảng. Trái mù u chín rụng xuống được gom lại ủ, ép lấy dầu để đốt đèn. Xác trái mù u sau khi ép dầu được quếch nhuyển trộn với bông gòn để “se” thành cây rọi (đuốc). Tụi nhỏ chúng tôi thường dùng dao chặt vào thân cây mù u để lấy mủ rồi trộn với đất sét loại tốt để vo thành viên đạn bắn “cu li”. Những viên đạn này lâu ngày sẽ trở thành bóng loáng và trở thành “quý giá” với tuổi thơ của bọn con nít chúng tôi. Những viên đạn chỉ là đất sét được dùng để bắn chim bởi “nạn dàn thung”. 
Đầu song nhà ngoại kế bên đường đi có hai bụi tầm vông khá to; đây cũng là nguồn lợi kha khá của ngoại. Phong trào thanh niên tiền phong một thời đã dùng cây tầm vông vạt nhọn để đánh Tây, người xưa dùng làm cây tầm vông dựng nêu cho ngày Tết, cây tầm vông còn dùng để làm sườn vách nhà thậm chí có thể dùng thay tre để làm đòn dông cho mái nhà nên cây tầm vông cũng có một vị trí đáng kể trong lòng dân quê. 

Một lần về thăm quê ngoại năm 2002 nơi còn đứa em gái của tôi lo phần hương khói tổ tiên, cảnh cũ đã mất dấu hoàn toàn ngoại trừ thửa đất, những nấm mồ của ông bà cha mẹ còn đó đã làm cho tâm tư tôi bùi ngùi thương nhớ. 
Tôi bước đi chầm chậm lúc ngó xuống đất lúc ngước lên trời như cố tìm một chút dư hương ngày cũ; không thể thấy mà chỉ cảm nhận chập chờn trong đầu những hình bóng thân yêu của ông bà cha mẹ, hình bóng của đám dừa nước dưới mé sông rất thơ mộng, lãng mạn khi lấp lánh ánh trăng rầm, đám tầm vông đầu ngõ run rinh cánh lá khi gió đùa. 
Xa quê nhà nhiều năm, lần về thăm duy nhất cũng đã mười năm qua rồi mà tôi chưa được thêm một lần nào nữa…!!! 
 

NHA 
January 29, 2013 
(18 Tháng Chạp, Nhâm Thìn) 
*Những địa danh bây giờ có thể đã thay đổi phần nào. 
*Tất cả ảnh từ Internet

 

 

@Hoàng Hưng, Đồng ý với HHg là thơ của chị Khánh Hà rất hay; anh có đọc thơ chị ấy ở Trang TPH bên Đức mấy năm về  trước. Qua sự trao đổi tin tức của nhóm bạn của tụi anh mà trong đó có chị KH, một lần anh “nhặt” được một thơ tranh đơn giản nhưng rất hay của chị. Xin phép chị Khánh Hà post ra đây để chứng minh nhận xét của HHg.

Có 11 bình luận về Nhà Ngoại Tôi*

  1. Nguyễntuyết nói:

    Hình cảnh xuồng ba lá , và cảnh cây dưà nước hai bên mé sông nhỏ  đẹp quá, câu chuyện quê ngoại cuả huynh làm NT cũng nhớ tới quê ngoại cuả NT , nhưng quê ngoại cuả  NT ở cầu mương Bình Hoà Phước , còn quê huynh ở rạch mương , à trong chuyện anh kể nhà lá 3 căn , em nghe người ta thường gọi nhà lá ba gian mà , 1 gian dành cho nhà dưới tức nhà bếp , 2 gian còn lại là nhà trên ,  gian giưã là phòng khách , gian bên hong thường đặt cái bộ ngưạ để nằm nghỉ trưa, đã mây chục năm qua NT chưa có cơ hội đi về quê ngoại cuả mình , tuy trong lòng vẫn có những hoài niệm nhớ thương , nhưng có lẻ mọi thứ đều đổi mới và lạ lẫm .

    • NHA nói:

      NT,

      Anh viết những gì còn in dấu trong tiềm thức; đúng sai mong nhờ bè bạn nhắc lại giùm.

      Cám ơn NT đã nhắc chữ nhà lá ba gian; chữ này trong văn chương chắc đúng hơn chữ nhà lá ba căn. Nhưng chữ nhà lá ba căn chắc là một cách gọi khác tại vùng bà ngoại của anh mà anh nhớ rõ nó lắm. Nhà loại này cất như vầy:

      -chỉ nói về hàng cột nhìn từ trước ra sau thì có 3 cây cột: cột trước thấp, cột giữa cao, cột sau thấp bằng cột trước,

      – “nhà ba căn” có bốn hàng cột như vậy, liền đòn dông (hay giông?), chia nhà ra ba khoảng không gian, mỗi khoảng là một “căn”, không có vách ngăn nhau.

      Toàn thể “ba căn” này gọi là nhà trên.Nhà trên của ngoại anh sử dụng “căn” chính giữa mà từ trước ra sau: có bàn trường kỷ với hàng ghế ngồi hai bên làm nơi tiếp khách, kế là bàn thờ người quá vãng đặt sát vách có hai cửa hai bên bàn thờ để vào phòng tiếp ngay sau đó thường dùng chứa đồ của mọi người trong nhà hoặc phòng ngủ. Hai “căn” hai bên trước hết là “bộ ván ngựa”, bàn thờ (nếu có người quá vãng thêm, vai vế thấp),vách giữa, sau cùng là phòng ngủ.

      Liền với nhà trên, bên trái hoặc phải, cất thêm một căn nhà khác, gọi là nhà dưới, thấp hơn nhà trên một chút dùng làm nhà bếp/ nhà ăn, lại  có người che thêm một “cái chái” liền với nhà dưới để chứa “cựa củi” hoặc làm nơi nấu nướng nếu không thích để cái bếp trong nhà dưói. 

      Nói thêm chi tiết nhà vùng quê chỗ anh ở với ngoại thuở ấu thơ như nhắc thêm hoài niệm.

      NHA

       

  2. Nguyễntuyết nói:

    Wow huynh tả đúng lắm y chang như hồi nhỏ em về quê ngoại chơi vậy đó. Nhà có caí nền cao cao , có mấy bậc thềm , anh tả làm em nhớ thêm được nhiều hơn . Cám ơn anh nhiều lắm ,em cũng có nhiều kỹ niệm: Hồi nhỏ  mỗi  2 tuần về quê một lần, chơi vui đuà với các con cuả cậu bảy em , trưa khi nước cạn , nước ròng gì đó tụi em lén xuống sông , xuống sình  với 4 em con trai con cậu, và mấy bạn con trai lối xóm.  Có mấy bạn con trai ở Đồng phú cũng chạy ghe máy xuống chơi vui lắm và em cũng khó quên cái chuyện bắt hến , bắt cá bóng dưà hay cá  bóng kèo gì đó , rồi có bắt cua nưã. Mấy đứa em con trai nó giỏi lắm , nó tự rưả sạch cua hến, lén vô nhà lấy cái nồi , rồi ra ngoài vườn , lấy 3 cục gạch làm cál lò xong lấy cuỉ khô và lá dưà đốt cháy lên , nấu chín và cùng nhau ăn. Ăn  như vầy mà em thấy  ngon hơn ăn đàng hoàng trên bàn, em cũng nhớ hoài cái kỷ niệm xưa, Có 1 bạn lối xóm quê ngoại, anh  hiện đang sống ở Texas ,khi anh tầm được số điện thoại cuả NT thông qua đưá em gái  cung cấp , mỗi tuần hay đôi khi nửa tháng anh gọi điện thoại , chỉ  nhắc  kỷ niệm xưa bắt còng bắt cua mà thôi , cứ nói hoài mà ảnh hỏng có chán ….Ảnh không chịu gọi cái tên  NT SNow mà chỉ gọi đúng cái tên tộc , ba mẹ em gọi ở nhà….vui và rất vui. Cám ơn anh NHA nhiều nhiều . NT SNow.

  3. PhươngNga nói:

    Anh NHA à, bài nầy em đọc đi đọc lại hai ba lần mà lần nào em cũng muốn rớt nước mắt.  Đó cũng là tình cảnh của em khi về quê Nội ở Sa Đéc. Tình xưa thì còn mà cảnh cũ thì chỉ là hoài niệm.  

  4. Hoàng Hưng nói:

    Anh Nha ơi, bài anh viết có nhiều điểm để góp ý:

    @ Những địa danh anh kể tôi biết gần hết, có 2 Mương Khai anh muốn nói đến Mương Khai nào?  Từ Gò Ân vô Cầu Mới, nhảy qua Ba Kè, rồi trở lại Hòa Hiệp mua rượu đế tặng anh Cả, rồi ghé Bà Tảng, rồi đi ngược về Long Hiệp, rồi Rạch Lá và Đồng Bé chổ nào tôi chưa biết.

    @ Anh có biết anh Xã quê ở Bà Phong không? Lúc trước anh Xã ở Wisconsin bây giờ anh đã về San Jose, anh Xã học cùng thời với các anh Lưu vĩnh Khương, Vệ, Tập, Huấn,Quới. . . các chị Khánh Hà, Dung, Bạch Cúc. . .

    @ Nhờ anh nói tôi mới biết loài dừa nước mọc lên từ trái dừa lão rụng xuống, tôi tưởng tự nó nhảy ra con như hành lá, rau cải. Anh kể trái dừa và trái dừa nước qua các thời kỳ non nạo, nạo, cứng cạy . . . Tôi có thể so sánh anh đang ở thời kỳ “Cứng Cạy”, ý tôi không nói về tuổi tác, tôi muốn nói về Kiến Thức. Đúng không Nguyễn Tuyết?

    @ Tôi muốn góp ý về cái đăng, kế nhà bà Nội tôi có một con rạch dẩn nước từ sông Mang Thít vô cánh đồng Cầu Mới -Quang Phú, tôi thấy ông Dượng độc quyền con rạch này, một tháng khoảng vài lần khi nước lớn đầy ông ngăn đầu rạch lại bằng hai tai (tay?) đăng hợp thành một góc tù, và để khi nước ròng ông bắt trước một mớ cá thoát ra sông, ông đặt ngay đỉnh góc tù một cái gọi là cái lờ, hay là cái lọp hay lộp hay lợp, tôi không biết viết chữ nào cho đúng, nói lờ, lọp, lộp, lợp một hồi nhớ tới 10 bài ca của ông Phạm Duy, nói “lộn lưởi”, bị Nguyễn Tuyết khai trừ, khó xin tái gia nhập.

    • NHA nói:

       

      Hoàng Hưng thân mến,

      Xin gọi Hoàng Hưng là em để,trước hết là cho thân mật sau là khi viết chữ em là biết nói đến Hoàng Hưng trong bài trả lời này.

      Khi viết bài Nhà Ngoại Tôi anh biết trước sau em cũng viết phản hồi vì  em ở Cầu Mới. Anh theo từng điểm của em:

      *Mương Khai: Nếu nhớ không lầm thì:

          -dọc theo bờ sông Mang Thít, bên phía Tân An Luông, đi hướng Cầu Mới – Cái Nhum thì sẽ gặp một Mương Khai. Thuở nhỏ có lần anh xem văn nghệ của Việt Minh ở vàm Mương Khai này thấy kịch sĩ trai hát “ vuốt áo lên đường…” rồi vuốt vai kịch sĩ gái để lên đường đánh Tây. Lúc đó lòng của đứa con nít cũng cảm thấy hăng say.

         -hướng Cầu Mới – Tam Bình, bên phía Hòa Hiệp, cách Cầu Mới không xa cũng có một Mương Khai khác.

          Nếu anh nhớ trật, em cho anh biết nhe…

      **Anh về ở Rạch Mương lúc năm tuổi đến mười một tuổi thì lên Ngả Tư Long Hồ học rồi ra tỉnh. Thỉnh thoảng về thăm mẹ, không có dịp đến Bà Phong. Do đó rất tiếc anh không biết anh Xã dù anh đoán ở TPH anh và anh Xã học trên/dưới nhau một lớp (vì anh biết Lưu Vĩnh Khương-sau anh một lớp).

      *** Chữ “cứng cạy” dùng chỉ cho kiến thức của anh, anh đề nghị nên đặt phía sau hai chữ đó nhiều dấu hỏi giùm nha!

      ****Những dụng cụ dân quê mình dùng để bắt cá, cua, lươn…có nhiều loại: đăng, đó, lờ, lộp, ống trúm, nôm, chài, lưới…(còn gì nữa không nhỉ?). Nếu nhớ không sai thì:

         -cái đó thường đi với cái đăng. Cái đó hình trụ, bên hông có xẻ một khe hở từ dưới lên trên để đặt cái hom , là cái bẩy cá vào mà ra không được. Cái đăng sẽ đưa cá vào  cái đó.

        -cái lờ đan bằng tre, cũng hình trụ nhưng ngắn thôi, hai đầu có hai lỗ tròn đặt hai cái hom(loại hom này tròn), trên cái lờ có “cái miệng” (cái lỗ) để đổ hay bắt ca ra. Cái lờ thường để bắt cá sặc, cá rô.

        -Ống trúm chuyên bắt lươn, làm bằng đoạn ống tre dài chừng một thước, lựa lại tre có đường kính lớn(tre gai)càng tốt. Thí dụ đoạn tre này có ba “mắt tre”, thì chỉ khoét trống một mắt ở một đầu và mắt ở giữa. Tại đầu khoét mắt, ta đặt cái hom  mà lươn chun vào là hết đường ra. Mồi bằng cua/ cá chết bỏ bên trong trúm, đem đặt trúm dưới mương/ rảnh chỗ nào nghi có lươn.

      Nhớ đại khái và tả đại khái vài dụng cụ- thật khó mà diển tả cho rõ ràng

      Phản hồi của Hoàng Hưng khiến anh nhớ hồi đó mẹ anh chèo tam bảng đi thăm bà Bảy (chị của bà ngoại anh) ở khoảng giửa rạch Bà Phong: từ nhà của ngoại ở khoảng giửa Rạch Mương sẽ đi vào hướng ngọn rồi theo Rạch Lá (rất hẹp hai bên toàn dừa nước), đổ ra Đồng Bé rồi đi hướng ra vàm Bà Phong để đến nhà bà Bảy. Không dám đi ra sông Mang Thít rồi từ vàm rạch Bà Phong đi vào vì sợ sóng của sông Mang Thít.

      Nhớ “hồi đó” quá …trời!

      • T Nguyen nói:

        Anh NHA !

           O Xa TAN AN LUONG co hai muong khai. Muong khai ngoai la giua cuoi ap 3 va dau ap 4 con muong khai trong la cuoi ap 8 giap ranh voi xa XUAN HIEP thuoc huyen TRA ON, huong ben HOA HIEP thi khong co muong khai , chi co vam ONG NAM va vam ONG CO

  5. Hoàng Hưng nói:

    Anh Nha ơi, T Nguyễn đã nói quá rõ về Mương Khai, cám ơn T Nguyễn còn rành hơn tôi về Mương Khai, tôi không biết Mương Khai ngoài là ranh giới của Ấp Ba và Ấp Tư, tôi chỉ biết Mương Khai trong nằm cuối Ấp Tám là ranh giới của 2 Xã Tân An Luông và Xuân Hiệp và cũng là ranh giới của 2 Huyện Vũng Liêm và Trà Ôn. Hình như Ông Đệ cũng ở gần Ông Nam, Ông Cớ. Còn Bà Soi (Xoi?), Bà Huề (Quề?), hình như ở  Xã Xuân Hiệp, cách Bà Phong khá xa.

    @ Như vậy anh Nha học trước chị Khánh Hà một năm, thơ chị Khánh Hà hay lắm. Sau mấy mươi năm rời trường Tống Phước Hiệp chị vẫn còn nhớ một bài thơ trong một tờ báo Xuân của trường:

    “Mùa Xuân về thăm mái trường tôi học.

    Tôi ngẫng nhìn trời một áng mây bay

    Mây chở mùa Xuân lòng tôi hồi hộp

    Mùa Xuân đi rồi tôi sống với ai”

    @ Hồi nhỏ tôi ra cánh đồng sau nhà, tôi thấy một cái lờ đặt giửa một con lạch nhỏ, tôi kéo cái lờ lên coi, tôi thấy trong lờ có quá nhiều tép cá, tôi đặt y lại chổ cũ. Khoảng 10 phút sau, một chú ra thăm lờ, chú nhấc lờ lên không còn một con tép, cá nào nữa. Tôi thắc mắc mãi, khi tôi kéo lên có nhiều cá tép, tôi đặt trở lại, tôi vẫn còn đứng quanh quẩn đó không có ai ăn cắp tép cá, chú kia nhấc lên thì không còn con cá nào.

    (Hoàng Hưng, xem phản hồi của anh NHA ở trên)

     

     

    • NHA nói:

      Biết tại sao không?

      Cái lờ như anh đã nói, có cái lỗ ở giữa thân  lờ để đổ cá tép ra, khi đặt cái lổ này phải hướng lên trời, được đậy / nhét tạm bằng một nắm rơm hay một bụi rau lục bình. .Khi HHg đặt cái lờ trở lại vô tình đặt nằm ngang  và cái nắm rơm/ rau mát/ cỏ rớt khỏi cái lổ thì cá tép ngu sao ở lại trong lờ ! 

      Nhớ thêm: dụng cụ bắt cá tép…còn có cái vó nữa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác