Tiếng VIỆT có gốc QUẢNG ĐÔNG & TRIỀU CHÂU (1)
Ngày đăng: 13/03/2026 03:41:09 Chiều/ ý kiến phản hồi (0)
Trong qúa trình hòa nhập vào cuộc sống của Việt Nam, những người Minh Hương đã sống tích cực như một người Việt Nam thuần túy, họ làm tất cả các ngành nghề mà người Việt bản xứ đã làm và sống hòa nhập một cách hồn nhiên tích cực để nhận nơi nầy làm quê hương; Và một trong cách sống hoà nhập “hòa nhập nhất” là lấy vợ Việt Nam, sanh con đẻ cái trên mảnh đất tạm dung mà họ đã chấp nhận là “Quê hương thứ hai” nầy, kể cả việc đi vào những vùng sâu vùng xa để khai hoang lập ấp và lao động cật lực với ruộng vườn rẫy bái… Nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long của Nam kỳ Lục tỉnh với hệ thống sông ngòi chằng chịt và khí hậu thiên nhiên ưu đãi, như bà con thường kháo nhau “Chỉ cần có cái quần “xà-lỏn” là có thể sống quanh năm”; Còn bà con người Hoa (Minh hương) thì cho rằng vùng đất thiên nhiên của Miền Nam là vùng “Ngư Mễ Chi Địa 魚米之地” hay nói một cách thân thương hơn là “Ngư Mễ Chi Hương 魚米之鄉” là “Quê hương của CÁ và GẠO”. Có nghĩa là vì thiên nhiên ưu đãi với khí hậu và sông ngòi chằng chịt, nên đời sống rất dễ dàng dễ chịu. Sông ngòi khắp nơi nên cá tôm có khắp nơi, khí hậu ưu đãi nên không biết rét mướt là gì. Có nghĩa sống quanh năm mà không phải lo gì đến cơ hàn đói lạnh cả !
Từ năm Kỷ Mùi (1679), vì không muốn quy phục nhà Thanh, bốn vị tướng nhà Minh đã đem hơn 3.000 người cùng 50 chiếc thuyền từ Quảng Đông (Trung Quốc) vào hai cửa biển của Việt Nam xin qui phục. Nghe theo lời bàn của triều thần, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho họ vào khai khẩn những vùng đất ở phía Nam. Từ đó, nhóm người Hoa này đã vỡ đất phá hoang, cày ruộng, dựng nhà và phố chợ, buôn bán với thương nhân đến từ nhiều nước khác… và dần dần hình thành nên một trong những khu phố Hoa kiều lớn nhất trên thế giới như Sài Gòn Chợ Lớn.
Bỏ qua qúa trình về lịch sử phát triển của người Hoa ở Việt Nam, chỉ nói thêm một chút về Ngũ Bang 五邦 của người Hoa ở Gài Gòn Chợ Lớn : 1. Người Phước Kiến 福建 thuộc tỉnh Phúc Kiến, 2. người Quảng Đông 廣東, 3. Triều Châu 潮州, 4. Hải Nam 海南 và 5. người Hẹ (khách gia 客家), thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG 廣東省 (Hải Nam trước mắt là một đơn vị hành chánh độc lập). Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện đầy cả Chợ cũ Sài gòn và Chợ Lớn Mới; Người Hẹ (còn gọi là Khách Gia 客家) giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ, bịt răng…; Người Triều Châu, còn gọi là người Tiều Châu và gọi cho gọn lại là Người Tiều, thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô như Phú Lâm, Lục Tỉnh như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe câu hát :
Bạc Liêu là xứ cơ cầu,
Dưới sông cá chốt, Tiều Châu trên bờ !
hay như :
Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu !
Cho thấy quần thể người Tiều Châu sống ở khắp cùng vùng sâu vùng xa thành phố, và sống rất khắc khổ, chịu thương chịu khó trong công việc đồng áng, và cũng chính người Tiều Châu hòa nhập vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất và đông nhất; Cũng như người Quảng Đông là quần thể sống về nghề buôn bán và công kỹ nghệ nên thường tập trung ở các thành thị chợ búa đông đúc. Như trước năm 1975, người Việt vào Chợ Lớn buôn bán cũng phải học nói tiếng Quảng Đông nếu như muốn business của mình được thuận lợi suông sẻ.
Nên dân chúng miền Nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long của vùng Nam kỳ Lục tỉnh nói riêng, khi trao đổi giao tiếp trong ngôn ngữ thường lẫn lộn rất nhiều từ ngữ mang âm sắc của tiếng Tiều Châu và Tiếng Quảng Đông như trong các bài Tạp ghi và Phiếm luận của Đỗ Chiêu Đức : “Từ Chè Tào thưng đến Bò bía”, “Uống Xây chừng đái ra Xây Nại”, “Dzách cô xíu mại, lượng cô Tài Páo”…
Thể theo lời yêu cầu của các thân hữu, sau đây là…
BẢNG LIỆT KÊ NHỮNG TỪ TIẾNG VIỆT
Có Gốc TIỀU CHÂU (T) và QUẢNG ĐÔNG (Q)
A. A 阿 là Tiếp đầu ngữ của cả tiếng Tiều và tiếng Quảng dùng để gọi người từ nhỏ đến lớn, như :
– A Mủi 阿妹, A Ché 阿姊 (Q) là Em gái, Chị gái.
– A Mùi 阿妹, A Chế 阿姊 (T) là Em gái, Chị gái.
– A Tỷ 阿弟, A Hia 阿兄 (T) là Em trai, Anh trai. Ta hay gọi là “Thằng Tỷ”.
– A Xúc 阿叔, A Xẩm 阿嬸 (Q) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là “Thiếm Xẩm”.
– A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸 (T) là Chú, Thiếm. Ta hay gọi là “Chú Chệt”.
– A Pá 阿爸, A Má 阿媽 (Q); A Pa 阿爸, A Má 阿媽 (T) là Ba, Má. Còn gọi là Pà Pá, Mà Má.
– A Coon 阿公, A Mắ 阿嬤 (T) là Ông nội, Bà nội.
– A Dè 阿爺, A Mà 阿嬤 (Q) là Ông nội, Bà nội.
– A Cúng 阿公, A Phò 阿婆 (Q) Ông ngoại, Bà ngoại. “Bà già Phò” là Bà ngoại đó.
Đặc biệt những con vật trong Lục súc sống gần gũi với con người cũng được dùng Tiếp đầu ngữ A 阿 để gọi, như :
– A Cẩu 阿狗 (Q) là con Chó. “A CẨU” cũng dùng để gọi người có tên CẨU.
– A Ngầu 阿牛 (Q) là con Trâu, con Bò. “A NGẦU” cũng dùng để gọi người có tên NGẦU.
Á. Á Phiện 鴉片 (T) đọc trại âm Tiều Châu là “A-Phẹn”, âm Hán Việt là NHA PHIẾN (tên khoa học: Lachryma papaveris). Một chất ma túy có gốc là mủ khô thu được từ vỏ mầm của cây anh túc hay cây thẩu Papaver somniferum thuộc họ Anh túc (Papaveraceae).
Ta có câu đối rất hay về Á Phiện ở một tiệm hút của Thị Trấn Cái Răng xưa như sau :
鴉片三分,蓋世英雄歸絕路; Nha phiến tam phân, cái thế anh hùng quy tuyệt lộ;
嫖賭二項,風流子弟入窮途。 Phiêu đổ nhị hạng, phong lưu tử đệ nhập cùng đồ.
Có nghĩa :
– Chỉ cần ba phân Á phiện thôi cũng đủ làm cho anh hùng cái thế đi đến con đường tuyệt lộ; Còn…
– Hai thứ chơi bời và cờ bạc, sẽ đưa con em phong lưu phóng đãng vào bước đường cùng !
B. BA là âm “A PA 阿爸” của Tiều Châu chỉ người CHA; Ta gọi theo là BA.
– BẠC là âm Quảng Đông của từ BẠCh là Trắng. Ta có từ :
– BẠC TẨY 白底 (Q) Ly nước đá cục, chưa có nước gì trong đó cả. Tùy theo tình huống, “Bạc Tẩy” cũng có thể là ly sửa nước sôi.
– BẠC XIỂU PHÉ 白小啡 (Q) là Cà Phê sửa nhỏ ít cà phê.
– BẢO KÊ là âm Tiều Châu “Bỏ Kê” được đọc trại ra của từ BẢO GIA 保家 là “Nhà Bảo Đảm”. Có BẢO KÊ tức là có ai đó Bảo đảm, có người chịu trách nhiệm.
– BẬU : Có nghĩa là Vợ, là em gái. Âm địa phương của Tiều Châu là “BẤU”. Người chồng Tiều Châu gọi vợ Việt Nam là BẬU. BẬU trong tiếng Tiều Châu còn có nghĩa là CÔ GÁI, là “Cha-Bấu 㜁” là Con gái.
– BÍA 餅 (T) âm Hán Việt là BỈNH, có nghĩa là BÁNH, thường gọi là “Bánh Bía” hay “Bánh Pía”, “Bánh Mì-Sủi” là loại bánh ăn dặm để uống cà phê vào buổi trưa.
– BÍM hay BÍNH âm Quảng Đông là BÍL, chữ Nho là BIỆN TỬ 辮子 là Tóc kết Đuôi Sam, bình dân gọi là “Thắt Bính”.
– BINH XẬP XÁM (Q) là một kiểu chơi bài của người Quảng Đông. XẬP XÁM là âm Quảng Đông của từ THẬP TAM 十三 là Mười ba. Chia bộ bài 52 lá ra làm 4 tụ. Mỗi tụ 13 lá chia làm 3 chi : Đầu, giữa và cuối; Rồi so nhau xem bài nào lớn thì thắng.
– BÒ BÍA (T) là BẠC BỈNH 薄餅 :BẠC là Mỏng ;BỈNH là Bánh; là một loại bánh mỏng. Có hai loại : Loại ngọt và loại mặn. Loại ngọt tráng bằng bột bắp gói kẹo mạch nha sốp rắc thêm mè đen mè trắng và dừa xác nạo mỏng, ăn rất ngon rất bắt, ăn hoài không chán. Loại mặn là bánh tráng nem của ta gói củ sắn sắt sợi xào với tôm khô, thêm trứng và lạp xưởng vào cùng với vài lá rau quế, cuốn tròn lại chấm với tương ớt, ăn quên thôi. Thường thấy các chú Ba đẫy xe bán ở trước các cửa trường học cho học sinh thích ăn hàng vặc.
– BÒ HÓ NÁNG là âm Tiều Châu của nhóm từ BẤT HẢO NHÂN 不好人. có nghĩa là : Người không tốt, người xấu.
– BỐ TỜI là đọc trại âm Tiều Châu “BỐ-TÒ” của từ BỐ ĐẠI 布袋 là Cái túi bằng vải, còn được gọi là cái BAO BỐ TỜI.
Bò bía mặn Bò bía ngọt Bao bố tời
C. – CAI âm Quảng Đông của từ GIỚI 戒 là Cấm đoán, Từ Bỏ. Như CAI Thuốc, CAI Rượu là Bỏ Thuốc Bỏ Rượu, không hút thuốc không uống rượu nữa. Ta có từ CAI NGHIỆN là Từ bỏ cái tật ghiền cái gì đó.
– CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 絞 là : Dặn theo chiều ngược kim đồng hồ, như “CẢO con tán bị dính cứng lâu ngày ra”.
– CẢO âm Quảng Đông của từ GIẢO 餃 là : Bánh quai vạc, như SỦI CẢO 水餃 là Bánh quai vạc nước. Khi chiên lên để ăn cho giòn là “CHÍL CẢO 煎絞”, còn khi được nấu chung với mì sợi thì gọi là CẢO MÌN 餃麵.
– CẢO HÚ âm Tiều Châu của từ CÂU PHÓ 夠副 là Đủ Bộ. Một loại bài tứ sắc cây lớn với cách chơi gom cho đủ bốn màu của các con bài giống nhau cho đủ bộ. Như : Đánh Tứ Sắc chán rồi thì đánh Cảo Hú.
Sủi Cảo Bài Cảo Hú
– CẤY âm Quảng Đông của từ KÊ 雞 là Con GÀ. Ta có từ TẢ CẤY 打雞 là ĐẢ KÊ, nhưng không có nghĩa là “Đánh Gà”, mà là “Đi Chơi Bời”. Có thể vì cách nói nầy của người Quảng Đông mà ta có từ “Gà Móng Đỏ” để chỉ các cô gái cô gái làng chơi chăng ?!
– CÔ âm Tiều Châu của từ CÔ 姑 là Chị em gái của Ba. A CÔ 阿姑 A TỈA 阿丈 là từ dùng để gọi CÔ và DƯỢNG (chồng của Cô).
– CÓN âm Quảng Đông của từ QUANG 光 là Sáng. Ta hay nói : Cái đầu sói (hói) không có tóc LÁNG CÓN là chữ CÓN nầy. Láng Cón là Láng bóng lên.
– CỐNG HỈ PHAT SỒI là âm Quảng Đông của lời chúc Tết : CUNG HỈ PHÁT TÀI 恭喜發財, còn được đọc là CÚNG HỈ FAT XỒI : Năm mới cùng mừng nhau phát tài.
– CÚ âm Quảng Đông của từ CAO 高. Ta thường nghe gọi những người cao nhồng là CÚ LỦ 高佬. Như CÚ LỦ Yao Ming 姚明 (cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của Trung Quốc, cao 2,29m).
– CÙ LỦ âm Quảng Đông của từ PHÙ LÃO 扶佬 là một trong các cấp ăn thua của lối chơi bài “Xập Xám Chướng 十三張”(Bài 13 lá), gồm có Một đôi và Ba cây giống nhau. Người Quảng đọc là PHÙ LỦ, ta nói trại thành CÙ LỦ.
Cú lủ Yao Minh Cù lủ : Đôi 5 và 3 cây J
– CỦ âm Tiều Châu của từ CỮU 舅 là Cậu, anh em trai của má. Người Tiều gọi Cậu Mợ là A CỦ 阿舅, A KIỂM 阿妗.
– CŨ âm Tiều Châu của từ CỔ 古 là Cũ là Xưa. Ta thường hay sử dụng từ CŨ XÌ là âm Hán Việt của từ CỔ THÌ 古時 là Hồi xưa, là Cũ lắm rồi !
CH. – CHÀNH âm Tiều Châu của từ SẠN 棧 là cái kho chứa. Ta hay nghe từ CHÀNH LÚA là Cái kho chứa lúa, là nơi chuyên kinh doanh về lúa gạo. Thường thì CHÀNH LÚA ở sát bên Nhà Máy Xay Lúa.
– CHẠP PHÔ âm Quảng Đông của từ TẠP HÓA 雜貨 là đồ linh tinh tạp nhạp trong cuộc sống hằng ngày. Ta có từ TIỆM CHẠP PHÔ là Tiệm Tạp Hóa đó.
– CHAY âm Quảng Đông của từ TRAI 齋 là Trai giới, là nơi học tập hay tu tập. Người Quảng nói XỰC CHÁY 吃齋 là ĂN CHAY. Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh cũng là chữ TRAI nầy; có nghĩa : Ghi lại những chuyện lạ nơi phòng học vắng vẻ.
– CHỆT âm Tiều Châu của từ THÚC 叔 là Chú, là em trai của ba. Gọi Chú Thiếm là A Chệt 阿叔, A Xiếm 阿嬸. Từ THIẾM là do âm Tiều Châu “A Xiếm” nói trại mà ra; Còn Chú là Chệt, thì ta lại có từ kép là CHÚ CHỆT để chỉ chung cho tất cả những người Hoa Phái Nam.
– CHÍ MÀ PHỦ âm Quảng Đông của nhóm từ CHI MA HỒ 芝麻糊. CHI MA là Mè (vừng), HỒ là chất sệt dính; nên CHI MA HỒ là Chè Mè Đen rang thơm mè rồi nấu với bột Tapioca của người Quảng Đông, Việt Nam ta lại rắc thêm dừa nạo hay chan thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên trông đẹp mắt mà ăn lại béo hơn ngon hơn.
