RẰM THÁNG GIÊNG DỰ LỄ NGHINH ÔNG NÚI SAM
Thường thường khi nghe nói “Lễ nghinh ông” chúng ta nghĩ tới lễ hội cầu ngư, lễ cúng cá Ông, lễ cúng Nam Hải tướng quân … của các cư dân miệt biển. Ở đó, lễ hội chủ yếu diễn ra trên biển với sự tham dự của rất nhiều tàu thuyền ngư dân. Linh vị Ông thờ từ một miễu đền trên bờ biển được thỉnh rước xuống tàu, trống giong cờ mở chạy một vòng ra biển khơi. Sau đó quay lại, đưa linh vị trở về đền thờ. Mục đích là để ngư dân tạ ơn và ăn mừng thành quả của một năm làm ăn, cũng như cầu mong cho một năm mới có nhiều thuận lợi.

Nhưng có một lễ Nghinh ông khác diễn ra hoàn toàn trên bờ, trên đồi núi. Tuy có tuổi đời hàng trăm năm nay nhưng ít được biết, diễn ra ở một vài địa phương có nhiều người Hoa sinh sống. Khoảng mười năm nay thì được tổ chức to lớn hơn. Lễ hội được gọi là Lễ Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân Xuất Du.
Hai địa phương tổ chức lễ hội này rầm rộ là Phan Thiết và Sài Gòn, đều diễn ra trong ngày 13 tháng Giêng âm lịch (ngày mà các chùa Phật có thờ Quan Công nói là ngày Quan Công quy y). Các nơi đều có 800 – 900 người tham gia diễn xuất. Tượng Quan Công, Quan Bình, Châu Xương được rước ra từ một đền thờ Quan Công, thường được gọi là chùa Ông, đi một vòng qua các con đường lớn, ghé lại một ngôi chùa Phật hành lễ rồi quay trở về đền. Tháp tùng luôn luôn có các đoàn lân sư rồng, các diễn viên đóng vai Bát Tiên, ông Địa, các hình tượng trong văn hóa cổ truyền của người Hoa, các đoàn đại diện cho các bang phái người Hoa… đi trong tiếng phèng la chiêng trống tạo ra một không gian náo nhiệt và hào hứng.
Đại diện Hội quán người Hoa Nghĩa An ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết: việc rước tượng Quan Thánh Đế Quân mang ý nghĩa nguyện cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mọi gia đình, xã hội phồn vinh.
….
Ở núi Sam, Châu Đốc An Giang cũng có một lễ Nghinh Ông như thế diễn ra trong 2 ngày 15-16 tháng Giêng âm lịch. Xuất phát từ miễu Âm Nhơn đi một vòng đường chân núi Sam, ghé hành lễ ở Miếu Bà Chúa Xứ rồi trở về miễu. Ba người đóng vai Quan Công, Quan Bình, Châu Xương đứng trên một chiếc xe được trang hoàng rực rỡ. Nhưng có lẽ vì miễu Âm Nhơn không có thờ các ông ấy nên lễ hội được hạ xuống thành Lễ hội Nghinh Ông Châu Xương (?).
Xin nói qua một chút về miễu Âm Nhơn núi Sam,

Miếu Âm Nhơn nằm ở Tây Bắc núi Sam, cặp theo đường vòng chân núi. Ngôi miếu được người dân địa phương quen gọi là miếu Cô Hồn, vì đây là nơi thờ cúng những vong hồn không nơi nương tựa theo quan niệm dân gian. Miếu được xây dựng bằng cây lá vào giữa thế kỷ XIX và trải qua nhiều lần trùng tu để có diện mạo như ngày nay.
Về nguồn gốc ra đời ngôi miếu, đến nay vẫn còn nhiều lý giải khác nhau.
Theo Nguyễn Phước Sanh (Miếu Âm Nhơn 2018), miếu được nhân dân xây dựng khoảng trước năm 1900, để thờ các bậc tiền nhân bỏ mình trong công cuộc đào kinh Vĩnh Tế, cùng chư vị có công khai phá và gìn giữ biên cương phương Nam.
Còn theo Trịnh Bửu Hoài (Châu Đốc: Di tích, thắng cảnh và đặc sản. 2018), miếu được nhân dân xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX, để thờ những cô hồn vất vưởng không nơi nương tựa, đồng thời thờ cả những bậc tiền hiền của thôn làng.
Trong dân gian thì kể rằng chân núi phía Tây Bắc của núi Sam có khu nghĩa địa lớn (người địa phương gọi là khu “đất cúng”, vừa giải tỏa để xây dựng quảng trường chân núi dưới chân tượng Phật lớn khắc trên vách đá), cô hồn thường hay quấy phá người đi đường. Do đó, nhân dân lập miếu cô hồn để giữ yên bình cho làng xóm. Có ý kiến khác nói rằng ngôi miếu được Thoại Ngọc Hầu cho xây dựng để thờ cúng vong hồn những nhân công đã thiệt mạng trong quá trình đào kinh Vĩnh Tế.
Dù còn ít nhiều khác biệt, nhưng điều chung của các lý giải này là cho rằng ngôi miếu được dựng lên nhằm mục đích thờ cúng những người đã chẳng may phải bỏ mình trên vùng đất mới, giữa rừng thiêng nước độc, vì thiên tai nhân họa… Khi nằm lại nơi đất khách quê người, họ không có người thân thờ cúng, hoặc mồ mả xiêu lạc qua thời gian. Do đó, miếu Âm Nhơn ra đời như một nghĩa cử tri ân và tưởng nhớ mà người dân núi Sam dành cho những thế hệ đi trước. (theo Vĩnh Thông)
Miễu nằm sát bên dưới đường chân núi, mặt ngó ra đồng ruộng. Nằm trong một khuôn viên khang trang, rộng tầm 1 công đất. Ngôi miếu gồm một chánh điện xây liền với gian thảo bạt. Trong chánh điện, bàn thờ chánh có 2 phần : trước là bàn thờ Hội Đồng, sau và cao hơn là bàn thờ Thập Loại Cô Hồn. Trên trần chánh điện là phù Bát quái với đủ 8 quẻ càn khôn. Hai bên bàn thờ chánh cũng có Tả ban, Hữu ban. Hai vách có bàn thờ ông Địa, Tiền Hậu Hương Chức, Nam Phụ Lão Ấu. Đặc biệt trên và trước chánh điện, có treo bức hoành phi bằng Hán tự, 庵 祐 恩 神, Thần Ân Hộ Am, được dịch như muốn nhấn mạnh: Ơn Thần Chở Che.
Không có bàn thờ ba vị thầy trò Quan Công.
…
.
Đúng 12 giờ trưa ngày 15, đoàn diễu hành sẽ khởi đi gọi là Hành binh. Các vị tư tế, hương chức của làng xã sẽ bưng bài vị Thập loại cô hồn và lư hương đặt lên chiếc xe trang hoàng rực rỡ. Hai người đóng vai Quan Công và Quan Bình bước lên xe trước, đứng vòng tay chào bá tánh. Người đóng vai Châu Xương còn ở lại dưới đường, múa một bài đao pháp hoành tảo thiên quân trong tiếng trống rộn ràng của 4 – 5 đội lân vây múa. Xong bài đao pháp, Châu Xương leo lên đứng ở đầu xe, trước Quan Công Quan Bình, diệu võ dương oai vô cùng oai vệ, để cho đoàn xe khởi hành đi vòng chân núi theo chiều ngược kim đồng hồ, giọng ví.
Dân chúng hai bên đường đã bày sẵn trước nhà những bàn hương án, trên có nhang đèn hoa quả và đặc biệt là những bọc gạo muối lớn, rất nhiều chai nước.

Những đoàn lân sẽ múa dẫn đường cho đoàn hành binh. Trước bàn hương án của mỗi nhà, lân sẽ múa một bài ngắn, rồi gia chủ sẽ mang tất cả lễ vật trên bàn đưa lên xe tải đi sau xe Quan Công. Đoàn xe đi rất chậm vì quá đông người vây quanh Châu Xương, cố đưa lên những chai nước của mình để nhận lại chai nước đã được 3 vị Quan Công, Quan Bình, Châu Xương sờ vào ban phép.
Có một tục lệ đi kèm trong lúc này là nhà nào cũng đốt một đống rác đã được chuẩn bị trước rồi quăng muối vào. Họ nói rằng như vậy sẽ xua đuổi được những điều xui rủi trong năm cũ.
Ta nói, phèng la chiêng trống inh ỏi trong khói lửa mịt mù, người người chen lấn. Náo nhiệt gì đâu!
Đi một vòng chân núi 5 cây số như vậy mà tới 21 – 22 giờ đêm, đoàn mới trở về tới miễu. Xong một việc gọi là rước các cô hồn tập trung về miễu, để hôm sau được cúng kiếng và đưa đi.
Hôm sau 16 là ngày chánh lễ. Các nghi thức diễn ra cũng giống như các nghi thức lễ bái ở miếu đình Nam bộ. Cúng xong, các cô hồn cùng một ít gạo muối lễ vật tượng trưng, sẽ được đưa lên một chiếc thuyền giấy lớn rồi đốt đi. Đốt chớ không thả trôi sông như các nơi khác. (Vì có sông đâu mà thả!)
Phần gạo muối lễ vật của bà con tiến cúng chỉ mới dùng một ít, phần còn lại rất nhiều sẽ được chia xớt cho người nghèo.
Ý nghĩa hay nhất của Lễ hội Nghinh Ông núi Sam có lẽ ngoài phần tâm nguyện cầu an, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, còn nằm ở chỗ nhà nhà được ấm no ở phần chia sẻ này. Vui vậy thay!
Rằm tháng Giêng Bính Ngọ
Đào Dũng Tiến
H5
h6
h7
