– XÁ LỊ âm Quảng Đông của từ SA LÊ 沙梨 là Trái Lê, vỏ vàng thịt xốp cho nhiều nước, ăn rất ngon. Nên loại ổi vừa xốp vừa dòn được gọi là ỔI XÁ LỊ là ỔI LÊ đó. Ý muốn nói Ổỉ mà ngon như Lê, nên mới gọi là ỔI XÁ LỊ.
– XÁ XÍU âm Quảng Đông của từ XOA THIÊU 叉燒, XOA là Cây chỉa (Quỷ Dạ Xoa là chữ XOA nầy), ở đây có nghĩa là Cây NĨA hay cây sắt có đầu nhọn dùng để ghim thịt. THIÊU là Đốt, là Quay, là Nướng. Nên XOA THIÊU (XÁ XÍU) là Thịt heo được ghim thành từng ghim hay móc vào móc sắt để nướng. Thịt thường dùng là thịt nạc vai, thịt nuột lưng… ướp mật ong, ngũ vị hương, xì dầu, chao, tương đen, bột màu điều và rượu… Thịt nướng xong có sắc đỏ nâu tươm mỡ trông rất ngon lành và lại bay mùi thơm phức. XÁ XÍU có thể cho ta thêm nhiều món ăn phụ như : Bánh bao Xá xíu, Bánh Mì Xá xíu, Cơm Xá xíu, Mì khô Xá xíu, Xôi Xá xíu…
– XẢO QUÈ âm Tiều Châu của từ SAO QỦA 炒粿 là Bánh Bột Chiên. Bánh được hấp bằng bột gạo (có khi còn được độn khoai cao, khoai môn hoặc củ cải trắng vào trong bột). Bánh được xắt nhỏ thành từng miếng hình chữ nhật, rồi đem chiên trong chảo cho vàng 2 mặt, đoạn bỏ hành lá xắt nhỏ vào cho thơm, ăn sang thì đập thêm một quả trứng vào. Chiên xong xúc ra dĩa bỏ thêm ngò rí , tiêu lên mặt bánh cho thơm rồi chấm tương ớt, xì dầu là sẽ có một bữa ăn ngon miệng quên thôi.
– XẨM âm Quảng Đông của chữ THẨM 嬸 là Thiếm (vợ của Chú). XẨM còn là từ gọi chung tất cả những người đàn bà người Hoa đứng tuổi, như ta gọi Thiếm vậy. Và ta cũng có từ THIẾM XẨM để chỉ một người đàn bà người Hoa đứng tuổi nào đó. Còn BÀ XẨM thì chỉ lớn tuổi hơn, như phần trên đã nói : “Vào nhà BÀ XẨM để NHẨM XÀ !”.
– XÂY CHỪNG âm Quảng Đông của từ TẾ CHỈNH 細整. TẾ là Nhỏ, CHỈNH là Hoàn chỉnh, ở đây có nghĩa là nguyên chất; Nên XÂY CHỪNG là “Ly cà phê nhỏ thuần chất”, ý nói “Chỉ thuần cà phê chớ không có thêm chất gì khác cả”. Nói tóm lại “XÂY CHỪNG là LY CÀ PHÊ ĐEN NHỎ”. Còn…
– XÂY NẠI là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ NÃI 細奶. TẾ là Nhỏ, NÃI là Sữa, nhưng XÂY NẠI không phải là “Ly sữa nhỏ”; Vì đó là từ nói gọn lại của ba chữ XÂY PHÉ NẠI 細啡奶. XÂY là Nhỏ, PHÉ là Cà phê, NẠI là Sữa. Nên XÂY PHÉ NẠI là “Cà phê sữa nhỏ”, nói gọn lại thành XÂY NẠI.
– XÂY BẠC XIỂU âm Quảng Đông của TẾ BẠCH TIỂU 細白小 là “Cà phê sữa nhỏ ít cà phê”.
– XÂY CÁ NẠI cũng là âm Quảng Đông của ba chữ TẾ GIA NÃI 細加奶. TẾ là Nhỏ, GIA Thêm, NÃI là Sửa; là nói gọn của nhóm từ XÂY PHÉ CÁ NẠI 細啡加奶 là “Cà phê đen nhỏ thêm sữa”, là CÀ PHÊ SỮA NHỎ đó.
– XÂY LỦ CÓ âm Quảng Đông của nhóm từ TẾ LÃO CA 細佬哥 là Ông anh nhỏ, là Con nít. Mấy đứa con nít gọi là “Mấy đứa XÂY LỦ CÓ”.
– XẾ âm Quảng Đông của từ XA 車 là XE. Ta có từ TÀI XẾ là SỬ XA 駛車 là người sử dụng xe, là Người Lái Xe.
– XÍ âm Tiều Châu của chữ TỬ 死 là chết. XÍ LẮT LÉO 死了了 là Chết queo hết trơn.
– XÍ MUỘI âm Quảng Đông là XÍL MUỘI của từ TOAN MAI 酸莓 là Me chua. XÍ MUỘI mà ta ăn ở tiệm thuốc bắc rất mặn vì đã được ướp muối rồi.
– XÍ MỨNG âm Tiều Châu của từ TỨ MÔN là Bốn Cửa. Bốn cửa nhưng không ra cửa nào cả. VÕ XÍ MỨNG là Môn võ không giống ai cả. Nên XÍ MỨNG chỉ những việc làm bá láp bá xàm không giống ai cả .
– XÌ DẦU âm Quảng Đông của từ THỊ DU 豉油 là Nước Tương.
– XỈ KI âm Tiều Châu là TỨ CHI 四枝 là bốn cây. Một tình huống trong bài Tứ Sắc, Thay vì Tướng sĩ tượng hay Xe pháo ngựa thì đủ bộ 3 cây rồi, đằng nầy lại có đến 2 con xe, 2 con pháo hay 2 con ngựa, nên tới 4 cây lận, cần phải tề bỏ một cây cho nó liền bài.
– XƯNG XÁO hay SƯƠNG SÁO âm Tiều Châu là XENG XÁO của từ TIÊN THẢO 仙草 là Dược thảo của Tiên, nấu xong đặc lại như thạch có màu đen, nên còn gọi là THẠCH ĐEN. Sách vở gọi là SƯƠNG SÁO, bình dân kêu là XƯNG XÁO, được cho là có tính mát, giúp hạ huyết áp, trị cảm mạo, đau khớp…
– XỨNG XÁI âm Tiều Châu của từ TOÁN THÁI 算睬 là Không tính rõ ràng, là cho qua một cách hoa loa, như câu nói “XỨNG XÁI Bò lái bò khự” là “Xí Xoá chớ không tính qua tính lại gì cả !”.
– XÍL XÁN âm Quảng Đông của từ TIÊN SINH 先生 là Thầy, là Ông theo phép lịch sự, nhưng thầy dạy mình học cũng gọi là XÍL XÁN được nữa.
– XÍU MẠI âm Quảng Đông của từ THIÊU MẠI 燒賣. Một loại thức ăn Điểm Tâm buổi sáng của người Quảng Đông; Có 2 loại : Xíu Mại Khô, thịt bằm, củ sắn được ướp thêm gia vị và được bọc bằng một lớp vỏ bột mì màu vàng; Xíu Mại Nước, không có bọc vỏ, được chưng cách thuỷ trong một cái dỉa nhỏ. Hai loại KHÔ và NƯỚC nầy thường được ăn với “Dầu-Chá-Quẩy” hay bánh mì đều rất ngon… Ta có từ XÍU DỤC 燒肉 là Thịt heo quay, XÍU ẠP 燒鴨 là Vịt quay.
– XÒ âm Quảng Đông của chữ XỌA 傻 là Khờ là khùng. XÒ CHẨY 傻仔 là Thằng ngu, thằng khờ, thằng Khùng.
– XỰC âm Quảng Đông của chữ THỰC 食 là Ăn. XỰC FÀL 食飯 là Ăn cơm; XỰC CHÚC 食粥 là Ăn Cháo; XỰC YẸ 食嘢 là Ăn đồ (Ăn vặc)…
– XƯỜNG XÁM âm Quảng Đông của từ TRƯỜNG SAM 長衫 là Áo dài Tàu của các cô nương Tàu mặc khi đi dự lễ hội hoặc Tết nhứt.
Cuối cùng ta có câu thiệu của các em bé khi chơi trò “XÌN XẦM” giống như là “Oảnh-Tù-Tì” sau này vậy :
“XÌN XẦM CÔ PÁO CHỈN CÔ CHẬP” (tiếng Quảng Đông)
– Cô PÁO là Cái Bao;
– CHỈN là Cây kéo;
– CÔ CHẬP là Cây Búa đập.
Và…
một câu ca dao Nam bộ của Đồng bằng sông Cửu Long với sông ngòi chằng chịt như tình yêu mộc mạc chất phác, nhưng cũng không kém phần tha thiết của một chàng trai người Tiều Châu và một cô gái quê Việt Nam như sau :
Dù cho “hổ lái huang tùa”,
“A Hia phề chúng khư uà” thăm em !
Có nghĩa:
Dù cho mưa lớn gió to,
Anh cũng bơi xuồng ra đó thăm em !
Chỉ là những góp nhặt những gì chung quanh cuộc sống thực tế từ nhỏ đến lớn của một người được sanh ra và lớn lên ở xã Thưởng Thạnh, huyện Châu Thành, Thị trấn Cái Răng của tỉnh Phong Dinh ngày xưa mà thôi.
Rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo cho những gì còn sai sót.
Chân thành CẢM TẠ trước !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
* Các bài minh họa cho bài viết :
Từ Chè TÀO THƯNG đến BÒ BÍA
Bỏ qua hết những nguồn gốc nhiêu khê bác học có dẫn chứng một cách nghiêm chỉnh theo phương pháp khoa học “Nói có sách, mách có chứng” của tác giả Minh Lê ra, ở đây, tôi chỉ nói về ngữ nghĩa của từ “CHÈ THƯNG” mà thôi… Theo giai thoại của bài viết nêu trên về “CHÈ THƯNG như sau :(trích)…
“Trên trang nhà của Giáo sư Trần văn Khê, ông tả lại một buổi đi thuyền trên sông Sầm Giang với hai nhà thơ Xuân Diệu và Huy Cận vào năm 1939. Thuyền đi từ Vĩnh Kim ra Rạch Gầm.
“Đáp lời mời của thi sĩ Khổng Nghi, hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Huy Cận đến Sầm Giang để cùng chúng tôi thưởng thức một đêm trăng trên sông, có nhạc, có thơ, có người đẹp và có cả những thức ăn đặc sản. Đêm đó có cháo gà xé phay, tráng miệng ngoài trái cây còn có món “tào thưng” (chè thưng gồm có bột khoai, bún tàu, nước dừa, đường cát)… Chén “tào thưng” làm cho hai thi sĩ Miền Bắc tấm tắc khen ngon.” Sau này gặp lại, nhà thơ Xuân Diệu vẫn nhớ buổi du thuyền đêm đó và viết tặng Giáo sư một bài thơ, trong đó có câu:
Dưới trăng, mời chén tào thưng,
Mà ba mươi lẻ năm chừng đã qua.” (Ngưng trích)
……………………………………………………………….
Theo giai thoại trên thì “CHÈ THƯNG” là từ nói gọn lại của “CHÈ TÀO THƯNG”. CHÈ là tiếng Nôm của ta; còn “TÀO THƯNG” là âm tiếng Triều Châu 潮州 (ta quen gọi là Tiều Châu, rồi gọi tắt luôn là tiếng TIỀU). Nên TÀO THƯNG là do tiếng Tiều phát âm 2 chữ ĐẬU THANG 豆湯 mà ra :
* ĐẬU 豆 là Hạt đậu. THANG 湯 là Canh : Bỏ đậu xanh vào nồi rồi đổ nước nấu lỏng bỏng như nấu canh. Khi đậu đã chín và nở ra thì bỏ đường vào (đường thẻ, đường sắc “Saccarozo”, đường cát…) đường gì cũng được. Xong múc ra chén, cứ thế mà húp sùm sụp khi chè còn đang rất nóng. (Ăn nóng là phong cách của người Tiều Châu : Cháo nấu lỏng bỏng vừa chín tới là đã múc ra chén, cho chút ít muối, đường hay nước tương, xì dầu gì cũng được là họ đã húp một cách ngon lành).
TÀO THƯNG là món ăn dặm vừa tiện, vừa rẻ, vừa ngon, vừa đem lại năng lượng làm việc cho các lão Tiều trồng rẫy làm ruộng ở vùng Phú Lâm khi xưa. Tiện vì làm rẫy có sẵn đậu xanh trong nhà; Rẻ vì chỉ có nước và đường gì cũng được; Ngon vì giữa trưa đang đói, có chén canh ngọt ngọt húp vào thì còn gì bằng; Vừa tăng thêm calories để tiếp tục công việc đồng áng. Nên…
* TÀO THƯNG 豆湯 : nghĩa đen là “CANH ĐẬU”, ở đây chỉ “CHÈ ĐẬU XANH. Người Hoa không có tiếng để gọi CHÈ, họ gọi tất cả những món ăn có nước là THANG (canh), như người Tây phương gọi “Soup” vậy. Vì đậu xanh không có nấu canh mặn, nên TÀU THƯNG là “canh ngọt” là “Chè Đậu Xanh” nguyên hột còn để vỏ.
Nói thêm một chút về Ngũ Bang 五邦 của người Hoa ở Chợ Lớn Việt Nam : 1. Người Phước Kiến thuộc tỉnh Phúc Kiến, 2. người Quảng Đông, 3. Tiều Châu, 4. Hải Nam và 5. người Hẹ, thuộc tỉnh QUẢNG ĐÔNG (Hải Nam trước mắt là một đơn vị hành chánh độc lập). Người Quảng Đông giỏi buôn bán kinh doanh, nên hiện diện đầy cả Chợ Lớn Mới; Người Hẹ (còn gọi là Khách Gia 客家) giỏi nghề thầy thuốc, trị bệnh; Người Phước Kiến thường theo nghề dạy học, xuất nhập khẩu; Người Hải Nam làm các nghề dịch vụ như mở quán nước, nhuộm đồ, bịt răng…; Người Tiều Châu thì đa số làm ruộng làm rẫy, nên thường sống ở vùng ngoại ô như Phú Lâm, Lục Tỉnh, như Sóc trăng, Bạc Liêu. Ta thường nghe câu hát :
Bạc Liêu là xứ cơ cầu,
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu !
Nên, người Tiều Châu rất khắc khổ, chịu thương chịu khó trong công việc đồng áng, và cũng chính người Tiều Châu hòa nhập vào cuộc sống nông thôn của người Việt Nam nhiều nhất, sớm nhất; và cách hòa nhập “hòa nhập nhất” là lấy vợ Việt Nam. Chính những bà vợ Việt Nam nầy thương chồng cần cù vất vả nên mới thêm “Phổi-tai”, nấm mèo, nước cốt dừa vào cho món CHÈ THƯNG được đa dạng và ngon hơn. Dần dà, thấy trong nhà làm rẫy có thứ nào thì thêm thứ đó vào, như khoai môn, khoai cao, khoai lang, khoai mì… và khi cuộc sống khấm khá hơn, thì không bỏ đường thẻ đường đen nữa mà bỏ bằng “đường cát trắng” và thêm bột khoai, bột báng vào…
Khi món Chè Thưng đã đủ ngon thì mời bà con lối xóm cùng ăn, và thấy có nhiều người thích thì người vợ Việt Nam cũng vì thương chồng cần cù mà tỏ ra đãm đang hơn bằng cách bỏ “Nó” vào quang gánh, gánh đi bán cho làng trên xóm dưới. Từ Phú Lâm ra Chợ Lớn, rồi từ Chợ Lớn ra Sài Gòn… tiếng rao lanh lảnh :”Ai ăn chè đậu xanh nước dừa đường cát…hông ?” cứ vang vang từ giữa trưa cho đến nửa đêm về sáng…
Diễn tiến của chè “TÀO THƯNG 豆湯” qua các giai đoạn
Ngoài “TÀO THƯNG 豆湯” là món ăn chơi được phát âm bằng tiếng TIỀU CHÂU 潮州 ra, trong các món ăn quen thuộc mà ta thường nghe hằng ngày còn có rất nhiều món có âm gốc từ tiếng Tiều Châu mà ra như :
– TÀU XỌN 豆串 : là Chè đậu xanh cà lột vỏ có pha bột mì tinh vào cho sệt sệt. Đậu màu vàng phân biệt từng hột một trong dung dịch sền sệt của patioca. Người Việt Nam ta lại chan thêm một muỗng nước cốt dừa màu trắng lên trên nữa, trông vừa đẹp mắt vừa béo hơn ngon hơn.
– TÀU HỦ 豆腐 : ta gọi là Đậu Hủ, Miền Bắc gọi là Đậu phụ, có ngọt có mặn. Được xay và nấu bằng Đậu Nành. Tàu Hủ Nước Đường thường ăn nóng vào buổi sáng, ăn lạnh vào buổi trưa chung với bánh lọt, gọi là Tàu Hủ Bánh Lọt. Món nầy, ta cũng chan thêm nước cốt dừa cho thơm cho béo. Còn Tàu Hủ mặn thì có rất nhiều loại : Tàu Hủ Non vừa mềm vừa thơm, dùng để nấu với canh hẹ thịt bầm. Tàu Hủ Miếng, Tàu Hủ Chiên dùng để kho với thịt sườn, thịt ba rọi; Ăn cơm rất bắt ! Tàu Hủ Miếng còn dùng để chế biến các món ăn chay, nhiều không kể xiết.
– TÀU HỦ KY 豆腐枝 : Lớp mặt của nước đậu nành được vớt lên để khô thành từng miếng mỏng, có thể chiên, xào, nấu canh, nấu chè…và còn rất đắc dụng trong việc chế biến các món ăn chay.
Tàu Hủ nước đường, Tàu Hủ chiên, Tàu Hủ kỵ
– XẢO QUÈ 炒粿 : Từ Hán Việt là SAO QUẢ 炒粿 : XẢO QUÈ là âm Tiều Châu; Có nghĩa là BÁNH BỘT CHIÊN. Bánh được hấp bằng bột gạo (có khi còn được độn khoai cao, khoai môn hoặc củ cải trắng vào trong bột). Bánh được xắt nhỏ thành từng miếng hình chữ nhật, rồi đem chiên trong chảo cho vàng 2 mặt, đoạn bỏ hành lá xắt nhỏ vào cho thơm, ăn sang thì đập thêm một quả trứng vào. Chiên xong xúc ra dĩa bỏ thêm ngò rí , tiêu lên mặt bánh cho thơm rồi chấm tương ớt, xì dầu là sẽ có một bữa ăn ngon miệng quên thôi.
– HỦ TIẾU 粿條 : là phát âm Tiều Châu của từ QUẢ ĐIỀU 粿條 : QUẢ là Bánh; ĐIỀU là Sợi. Nên QUẢ ĐIỀU là bánh bằng bột gạo được xắt thành từng sợi từng sợi một, nấu với xương súp, bên dưới độn giá hẹ, bên trên thêm vài lát gan và thịt khìa xắt mỏng, có nơi còn thêm một miếng bánh tôm chiên dòn, bỏ thêm mỡ tỏi, hành ngò, rắc tí tiêu lên là sẽ có một tô Hủ Tiếu thơm phứt ngon lành. HỦ TIẾU là món điểm tâm duy nhất bằng tiếng Triều Châu hiện diện trong các tiệm nước Quảng Đông, âm Tiều Châu chính gốc của từ QUẢ ĐIỀU 粿條 là “CỦI TÉO” được bà con ta gọi trại thành HỦ TIẾU, CỦ TIẾU, PHỞ TIẾU… (Không biết là từ PHỞ có phải từ đây mà ra chăng ?!).
“XẢO QUÈ” Bánh Bột Chiên và Hủ Tiếu gỏ, Hủ Tiếu giò heo.
– BÁNH PÍA 餅 : Âm Tiều Châu BÍA có nghĩa là BÁNH; BÁNH PÍA là từ kép chỉ BÁNH mà thôi. Ở miệt Sóc Trăng, Vũng Thơm, Bạc Liêu… người Tiều Châu dùng đậu xanh nấu cho nhừ rồi tán nhuyễn ra xào chung với đường cho ngọt gói trong bột mì được cán thành nhiều lớp làm thành loại bánh ngọt ăn “La-sét”(tráng miệng) rất ngon hoặc để ăn dặm vào các buổi trưa khi ngồi quán cà-phê vừa nhâm nhi cà -phê vừa thưởng thức bánh Bía thì ngon không gì bằng. Bánh Bía Vũng Thơm, Bánh Pía Tân Huê Viên là thương hiệu nổi tiếng nhất của vùng Lục Tỉnh lên đến Sài Gòn Chợ Lớn và ra đến nước ngoài. Có đủ các mùi như : Bánh Bía Nhưn hột sen, nhưn đậu xanh Xoài Riêng, nhưn đậu đen, nhưn Khoai Cao…
Còn một món ăn có chữ BÍA rất phổ biến trong giới bình dân, trên các dĩa hè, trước các cổng trường học, cho nên cả giới học sinh cũng rất mê món ăn nầy, đó chính là món :
– BÒ BÍA 薄餅 : Chữ Nho là BẠC BỈNH, BẠC 薄 là Mỏng; BỈNH 餅 là Bánh, nên BÒ BÍA nghĩa đen là Bánh Mỏng, chỉ Bánh Tráng. Có hai loại : Loại ngọt, dùng bánh tráng mỏng được tráng bằng bột bắp gói đường mạch nha sốp, rắc thêm mè và dừa nạo, rất ngon. Ăn hoài không chán ! Loại mặn, xào củ sắn với củ cải đỏ, thêm tôm khô lạp xưởng trứng tráng xắt nhỏ, rồi cuốn bằng bánh tráng được tráng bằng bột gạo, chấm vào tương xay, ớt xay hoặc “sa-tế” cũng rất ngon. Có thể ăn chơi hoặc ăn thế cơm cũng được. Trông như gỏi cuốn của ta vậy, nhưng hương vị thì rất khác, rất ngon !
Bánh Piá và Bò Bía ngọt mặn.
Đó là các món ăn, còn trong cuộc sống thì có các từ như :
– QUA 我 :chữ Nho là NGÃ, có nghĩa là Tôi. Tiếng Tiều Châu đọc là “WẮ”, ta nói trại thành QUA. Thường dùng để tự xưng cho người hơi lớn tuổi. Ví dụ ví dõm mà ta thường nghe nhất là :
“Hôm qua, QUA nói QUA qua, mà QUA hổng qua;
Hôm nay, QUA hổng có nói QUA qua, mà QUA qua !”
– BẬU : Có nghĩa là Vợ, là em gái. Âm địa phương của Tiều Châu là “BẤU”. Người chồng Tiều Châu gọi vợ Việt Nam là BẬU. BẬU trong tiếng Tiều Châu còn có nghĩa là CÔ GÁI, là “Cha-Bấu 㜁”. Mời nghe bài thơ của nhà văn, nhà viết kịch vĩ đại nhất nước Anh William Shakespeare, nguồn tin khác cho là của Bob Marley, lại có người bảo của nha thơ Thổ Nhĩ Kỳ tên là Qyazzirah Syeikh Ariffin, bài thơ như sau:
You say that you love rain,
But you open your umbrella when it rains.
You say that you love the sun,
But you find a shadow spot when the sun shines.
You say that you love the wind,
But you close your windows when wind blows.
This is why I am afraid,
You say that you love me too.
… và tôi đã dịch cho vui cùng các bạn trong Vườn Thơ Thẩn như sau đây :
BẬU rằng BẬU rất CHỊU mưa,
Mưa vừa nhỏ giọt… BẬU vừa giương ô,
BẬU rằng BẬU THÍCH nắng khô,
Trời vừa hé nắng… BẬU vô mái nhà.
BẬU rằng BẬU MẾN gió qua,
Gió vừa thoang thoảng… rèm đà buông xuôi,
Bây giờ BẬU nói THƯƠNG tui,
Lòng tui thấp thỏm rối nùi … hỏng yên !
– NHỊ TÌ 義地 : chữ Nho là NGHĨA ĐỊA, nơi chôn người chết. Âm Tiều Châu là “Nghì-Tì”, âm Quảng Đông “Dì-Tì”. Ta nói trại thành NHỊ TÌ.
– PHỔI TAI 海帶 : chữ Nho là Hải Đới, HẢI là Biển, ĐỚI còn đọc là ĐÁI là một dãy dài,(như sợi dây nịt, dây lưng quần chẳng hạn, được gọi là QUẦN ĐÁI 裙帶). Nên HẢI ĐỚI là những sợi rong dài to bảng ở dưới biển. Tiếng Quảng Đông đọc là “HỔI TAI”. Ta đọc trại thành Phổi Tai. Loại rong biển to bảng nầy xắt sợi trộn chung với “lười ươi hột é” ăn rất mát.
Phổi Tai và chè Phổi Tai.
Trong bài viết của bạn MINH LÊ có nhắc đến từ “lục tàu xá”, (trích) :
“Rồi vì chè bột khoai, chè tào thưng và chè bà ba có nhiều nguyên liệu giống nhau, lại thêm lục tàu xá (chè sáu món của người Hoa, gồm đậu xanh, phổ tai, táo đỏ, hạt sen, nhãn nhục, hoa móng tay hay vỏ quýt)” (ngưng trích)
– LỤC TÀU XÁ 綠豆沙 : Chữ Nho là LỤC ĐẬU SA, Lục Đậu 綠豆 : là Đậu có màu xanh lục, chữ Lục ở đây không phải là số 6. Nên Lục Đậu Sa : có nghĩa là chè đậu xanh lột vỏ được nấu nhừ như Cát (sa), cho màu vàng rất đẹp. LỤC TÀU XÁ là âm của tiếng Quảng Đông. Cũng như…
– CHÍ MÀ PHỦ là âm Quảng Đông của nhóm từ CHI MA HỒ 芝麻糊. CHI MA 芝麻 miền Bắc gọi là VỪNG, miền Nam gọi là MÈ, ở đây chỉ MÈ ĐEN; còn HỒ là HỒ, là bột gạo bột nếp khuấy thành HỒ. Nên CHÍ MÀ PHỦ là một loại “Chè Mè Đen”. Dùng mè đen rang cho thơm, xay nhuyễn rồi khuấy với bột nếp hay Tapioca, cùng với đường, nước cốt dừa khuấy cho sệt lại như hồ. Ăn rất thơm ngon vừa bổ khoẻ vừa huợt trường.
– CẤY TẢN XÀ là âm Quảng Đông của nhóm từ KÊ ĐẢN TRÀ 雞蛋茶. KÊ ĐẢN là Trứng Gà, XÀ là Trà. Đây cũng là một loại chè bổ dưỡng được nấu bằng Trứng Gà luộc chín lột vỏ nấu chung với nước đường mía đen cùng một bọc trà Thiết Quan Âm được gói trong vải the, nên món CẤY TẢN XÀ (Chè Hột Gà Trà) có màu vàng nâu của trà trông rất hấp dẫn.
– SÂM BỔ LƯỢNG là âm Quảng Đông của nhóm từ THANH BỔ LƯƠNG 清補涼. THANH là làm cho Trong, BỔ là Bổ dưỡng, LƯƠNG là mát mẻ. Nên SÂM BỔ LƯỢNG là một loại chè ăn để thanh lọc tạng phủ cho sạnh sẽ, mát mẻ và bổ dưỡng nữa ! THANH BỔ LƯƠNG thường được nấu bằng nhãn nhục (cơm trái long nhãn phơi khô), hạt bo bo, hạt sen, củ sen, phổi tai, táo đỏ, kỷ tử, cánh hoa bách hợp và hoài sơn… cùng với đường phèn. Có thể ăn nóng hoặc ăn lạnh gì cũng được.
Đỗ Chiêu Đức