Nói Với Ngân Hạnh

Ngày đăng: 31/08/2016 04:21:43 Chiều/ ý kiến phản hồi (4)

Năm 1974, tại Đại học Văn khoa Sài Gòn thầy Duan Hauch phụ trách 2 môn American Literature và American Drama của chứng chỉ Văn chương, Văn minh Mỹ. Khi có lớp của thầy, nhất là những lớp buổi tối, anh rất ngạc nhiên khi thấy luôn có một nhóm khoảng 10 anh, chị đến học. Do đến trường không thường, phương tiện di chuyển và trang phục rất sang, đẹp, hiện đại nên anh đoán họ không phải là sinh viên. Trong giờ học thường ngồi quanh bục, sát chân thầy, im lặng nghe giảng tuy ít thấy ghi chép, thỉnh thoảng cũng có phát biểu, nói chung, tác phong rất đúng mực. Giờ ra chơi hay sau buổi học, nhóm người này lại bao vây thầy và cùng trò chuyện vui vẻ, thân mật. Họ cũng ra dấu chào nhận biết khi nhìn thấy một cô sinh viên “trông có vẻ lẻ loi” (do không thuộc nhóm mới lên chứng chỉ chuyên khoa vốn đã ít nhiều quen biết nhau) giữa đám sinh viên “chăm chỉ hạt bột” ngồi cặm cụi ghi note ở các hàng ghế, để rồi đến giờ ra chơi lập tức đến ôm, lôi cô đến chỗ nhóm bạn đang cùng thầy Hauch trò chuyện.

Thầy Hauch là người cực kỳ năng động, cạnh nhiệm vụ chính tuỳ viên văn hoá toà đại sứ Mỹ, tham gia giảng dạy tại Văn khoa, thầy còn tổ chức và điều hành một nhóm kịch thỉnh thoảng trình diễn tại các trung tâm Văn hoá Mỹ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ, Đà Nẳng… Sau này anh mới biết nhóm người ấy, kể cả “cô sinh viên trông có vẻ lẻ loi”, là những thành viên của nhóm kịch. Nhiều người trong nhóm từng học Văn khoa.

Dạo ấy việc học ban Anh văn của chúng ta khá thuận lợi. Thư viện riêng của ban cho sinh viên mượn khá đủ sách, truyện về tham khảo suốt năm học, chúng ta còn được làm thẻ mượn sách của thư viện Abraham Lincoln và British Council. Sinh viên như anh chỉ gặp khó khăn do thiếu tài liệu tham khảo về kịch, còn Nguyễn Thị Ngân Hạnh, “cô sinh viên lẻ loi”, lại có khá đầy đủ. Thế là ta quen nhau (tuy về phía anh có phần lợi dụng!)

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,

Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.

( thơ Xuân Diệu)

 

Rồi thành phố giải phóng. Mấy hôm sau khi thành phố đã ổn định, mọi người đã quen với sự hiện diện của những anh lính giải phóng, anh đến trường nhưng không thấy em. Tìm đến nhà mới biết em và chị Phương, chị kế của em, mấy ngày nay “đóng cửa” ở nhà may quần áo để mặc cho hợp thời thế. Sau đó chúng mình cùng đến trường. Khi trường dạy trở lại, em tiếp tục học Văn khoa nhưng có vẻ nản do nghe nói lớp chúng mình, dù tất cả sinh viên đã có chứng chỉ dự bị, nhưng chỉ được xếp vào hệ cao đẳng. Trong nhà em lúc ấy có 5 người. Bố em, trước 1954 là nhân viên quan thuế ở Hải Phòng, sau khi vào Nam ông làm việc thêm một thời gian rồi nghỉ hưu. Mẹ nhỏ người, là tiêu biểu của phụ nữ lớn tuổi Bắc, chỉ quanh quẩn nhà bếp, nhà sau và rất kiệm lời. Chị Phương đã lập gia đình, có nhà riêng nhưng sau này hay về nhà chơi sau khi chồng chị đi học cải tạo ở ngoài Bắc, em và Nam là em út. Gia đình em rất yêu âm nhạc. Thời con gái chị Phương học Luật đồng thời học piano tại Quốc gia Âm nhạc, Nam đang học toán tại ĐH Khoa học và chơi guitar nhất là classic rất hay, em học Văn khoa và chơi mandolin. Nhà dành hẳn một phòng chứa nhạc cụ, nhưng tiếc là anh chưa lần nào được may mắn dự một buổi hoà nhạc gia đình. Anh có nài nỉ em chơi mandolin cho anh thưởng thức nhưng không hiểu sao em lại từ chối?

Sau giải phóng anh phân vân trước 2 chọn lựa: Văn khoa hay Sư phạm Kỹ thuật. Vì còn phân vân nên anh đến trình diện cả 2 trường. Nhân viên quân quản K-11 nói, “…tiếng Anh là tiếng đế quốc!” Anh về nhà thuật lại câu ấy cho gia đình. Ba nói, “Thôi, bỏ Văn khoa đi con.” Theo Sư phạm Kỹ thuật sẽ vất vả vì phải lên học tận Thủ Đức (ngã tư chợ Nhỏ) nhưng anh được biết khi việc học tập đã đi vào nề nếp, ổn định, giáo sinh sẽ được học bổng; nam 18đ / tháng còn nữ 18,50đ / tháng, một số tiền túi khá lớn với anh, thời ấy. Anh cũng biết với bản lý lịch mà sau cùng sẽ được phê những chữ “thành phần gia đình Nguỵ quân – Nguỵ quyền” thì phải biết an phận. Chả là ở ngoài Bắc người ta vẫn nói: “Chuột chạy cùng sào, mới vào sư phạm”? Quyết định được đưa ra.

Giai đoạn đi học trở lại sau ngày giải phóng của anh rất khổ. Sáng phải thức dậy trước 4 giờ, ăn sáng, chừa lại một phần cơm cho vào lon sữa Guigoz mang đến trường cho buổi trưa, đi bộ từ nhà ở quận 8 đến bến xe đi Biên Hoà, Dĩ An nằm trên đường Nguyễn Hoàng (gần chợ An Đông, nay đã giải toả), phải tranh giành để có một chỗ trên xe đến trường. Buổi chiều về còn khó khăn hơn vì rất khó đón xe đò, thường là phải đi bộ đến ga xe lửa gần chợ Thủ Đức, tìm mọi cách để được lên tàu, mà thường là phải đu. Tàu về đến bên hông trường Nguyễn Bá Tòng (nay là trường Bùi Thị Xuân), gần ga Sài Gòn, thì nhảy xuống để về cho gần, và cũng để khỏi bị bắt vì tội đi tàu không mua vé. Lúc anh về đến nhà thường thì đã lên đèn. Thỉnh thoảng, buổi tối, anh đến nhà em chơi, căn nhà nằm trong hẻm 314 Phan Thanh Giản, một hẻm ngắn, toàn những căn kín cổng, cao tường. Chúng ta hay đặt ghế ngồi trước sân nói chuyện vì dạo ấy Sài Gòn hay bị cắt điện, ở trong nhà ngột ngạt và cũng để có chút riêng tư. Cũng có khi anh chở em bằng xe đạp đến nhà bạn của em chơi.

Cuối năm 1976 em ra trường và được phân công đến Bình Thuận làm việc. Dĩ nhiên là em không nhận nhiệm sở. Tháng 7 năm 1977 anh ra trường, may mắn thay lúc ấy ở Sài Gòn thiếu giáo viên rất nhiều nên được ở lại thành phố. Từ đó anh đến nhà em thường xuyên hơn. Em than không có việc làm, phải ở nhà hoài chán lắm. Em cũng đã xin làm việc cho hợp tác xã tiêu thụ phường nhưng không được. Còn anh chỉ biết an ủi em.

Hè 1978 anh về quê Vĩnh Long chơi. Cao hứng, anh xuống Trà Vinh xem ao Bà Om rồi vào phum của đồng bào Khmer quan sát cách sống. Tại chợ phum anh gặp bà cụ bán đồ kim khí thủ công như cây cài tóc, cây móc ráy tai, nhíp, vòng đeo tay bằng bạc trên có treo chuông hay lục lạc, khi người mang vòng cử động sẽ phát ra tiếng kêu leng keng dễ thương. Anh mua chiếc vòng bạc với cái chuông bạc xinh xinh vì anh thấy nó hợp với tên em. (Anh không biết khi ba mẹ đặt tên cho em, ông bà hàm ý nghĩa gì, còn với anh, chữ Ngân là kim loại bạc, còn Hạnh là hạnh phúc, niềm mong ước của mọi người, kể cả anh.)  Sẵn ở nhà có chiếc hộp tròn sơn mài thế là anh để vòng vào hộp tặng em làm quà kỷ niệm chuyến về quê. Như thường lệ, chúng ta đặt ghế ở sân ngồi nói chuyện về chuyến đi. Khi mở hộp trao chiếc vòng, anh đã nói với em: “Người (thanh niên) miền Nam như anh không bao giờ dám tặng quà nữ trang bằng vàng cho một cô gái, mà cô gái cũng không dám nhận, vì tặng quà như thế là một lời nghiêm túc cầu hôn, ngỏ ý.” Em đã nhận chiếc vòng và nhờ anh đeo vào tay cho em. Dưới ánh trăng anh thấy mắt em long lanh. Lý sự “cùn” của anh về tên em vậy mà đúng: Chuông bạc reo mang đến hạnh phúc cho anh.

Lần kế đến nhà, em mời, “Chiều Chủ nhật này, anh đến trước 4 giờ để cùng đi nhà thờ với em.” Cô Tư (em gái của ba anh) có chồng Công giáo, lúc nhỏ mỗi khi lên Sài Gòn chơi ở nhà cô, do tính tò mò, anh vẫn theo mấy đứa em họ đi nhà thờ, cũng biết vài điều về lễ ở nhà thờ  nên không ngần ngại, mà làm sao anh có thể kháng lại lời mời ấy? Anh dự định: Nếu tình thế “căng quá” thì nói với em đứng bên ngoài, vì nhiều giáo dân tính tình phóng khoáng, yêu tự do, vẫn thường đứng ngoài nhà thờ khi đang hành lễ, như anh vẫn thấy. Sự việc tiếp theo xảy ra không như anh nghĩ. Nhà thờ em nói là nhà nguyện Mai Khôi, nằm trên đường Phan Thanh Giản gần ngã tư Lê Văn Duyệt, không có chỗ để đứng ngoài “dự thính”. Nhà nguyện rất nhỏ (chứa không đến 100 giáo dân) và hình như mọi người đều biết mặt nhau. Trên quảng đường gần 500 mét từ nhà em đến nhà nguyện, hai đứa đi sau, chị Phương đi trước. Trên đường, rất nhiều người chào hỏi chị Phương, nhưng khi thấy khuôn mặt lạ của anh bên cạnh em họ chỉ cười cười, mắt ánh lên vẻ ngạc nhiên. Rồi khi không còn chỗ tránh, phải đi cạnh em vào trong nhà nguyện, anh ngượng cứng người trước những cái nhìn tò mò (về phía anh), và dọ hỏi (về phía em). Còn những người trẻ, tuổi trạc chúng mình, thì chỉ trỏ, xì xào. Anh chỉ còn biết khoanh tay trước ngực, mắt nhìn thẳng tượng Chúa, như đang cầu mong… Lúc ấy anh rất sung sướng. Sung sướng vì biết em đã chấp nhận anh, mới dám dẫn anh đến nhà nguyện “trình diện” cộng đồng giáo dân nhỏ mà em và gia đình đã gắn bó từ lâu. Vừa ngượng, vừa quá sung sướng nên anh đứng đơ người, không dám nhìn sang em cũng như để ý đến thái độ của em lúc đó, nhưng khi ngượng chắc chắn má em sẽ ửng hồng. Anh đã mỉm cười khi chợt nhớ lại việc má anh nửa đùa, nửa thật khuyên lúc chị của anh đến ‘tuổi đi tìm nửa kia’, “Thứ nhất Bắc kỳ, thứ nhì Công giáo, nhớ tránh nghe con.” (Chú thích riêng: Đây là ý kiến cá nhân của má tôi. Thành thật xin lỗi nếu có đụng chạm. Thật ra bản thân tôi cũng không thực hiện được lời khuyên ấy, do khi lập gia đình, người tôi cưới có cả hai yếu tố trên.) Thế mà bây giờ anh đang quỳ trong nhà thờ, bên cạnh cô gái Bắc di cư.

Dạo ấy mới được học Marx-Leninism nên anh rất say sưa; tuổi trẻ vốn thế và cũng là xu hướng thời đại mà. Chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra. Tình cờ, anh có em họ là lính chế độ cũ, thuộc diện không được ở thành phố phải hồi hương lập nghiệp nên gia đình mua đất rừng mới khai phá ở Đồng Nai để các em sản xuất nông nghiệp. Thỉnh thoảng anh mang gạo và thức ăn  lên tiếp tế vì các em không quen ăn ròng ngô, sắn. Có một đêm ở rẫy anh nghe tiếng súng từ hướng Tây Ninh vọng về. Chiến tranh lại đến và đã rất gần. Do tình yêu nước vốn có, anh tình nguyện vào Hồng quân và được xếp vào quân dự bị, vẫn tiếp tục đi dạy. Biết chuyện ấy, từ đó em đã gọi anh là “thầy giáo Cộng Sản”. Anh hơi buồn khi nghe em gọi anh như thế.

Một lần đến nhà em, anh nhìn thấy trong góc phòng khách có đặt bức tượng gỗ vũ nữ Champa cao gần mét đứng trên lưng rùa. Thấy tượng đẹp nhưng gỗ bị mục nhiều anh tiếc, “Uổng thật. Bức tượng đẹp nhưng gỗ bị mục hết!” Em cho biết tượng không phải bằng gỗ thường mà được tạc từ gỗ trầm, và do người anh đi lính ở miền Trung mua về trang trí trong nhà đã lâu. Hôm nọ thương lái Chợ Lớn đến nhà xem, chịu mua với giá 10 cây vàng nhưng ở nhà chưa đồng ý bán. Vào thời đó, với số vàng ấy có thể mua một căn nhà mặt tiền. Anh thắc mắc, nhưng không dám hỏi, gia đình cần tiền nhiều như vậy để làm gì? Anh u mê quá phải không Hạnh?

Anh vẫn sống vô tư, thiếu quan tâm đến em, gia đình em và những gì xảy ra chung quanh. Rồi một hôm em hỏi ý anh về việc đi nước ngoài hay ở lại. Anh nói ở đây sống cũng được, đi làm gì? Thật ra lúc ấy anh rất thất vọng về “Đồng minh Mỹ”. Trước đây anh sống thoải mái, tích cực, chan hòa vì anh đã thấy thấp thoáng hình bóng của anh trong guồng máy ấy, đảm trách một khâu quan trọng hay thứ yếu tùy theo năng lực của bản thân, bên cạnh những “Đồng minh Mỹ”. Xử lý vụng về để vuột mất suất học bổng du học năm 1972, anh lập tức lên kế hoạch chuẩn bị tìm suất du học sau đại học, và việc đầu tiên anh thực hiện là học cho giỏi tiếng Anh. Nhờ đó anh gặp em. Mọi việc anh đang làm tốt thì đến ngày 30/4/1975. Anh từng được họ dạy: “A friend in need is a friend indeed”,  thế mà ngày 30/4 họ lên phi cơ bay thẳng. Rồi tình cờ anh được xem phim tài liệu quay cảnh ngày 30/4 trên một tàu sân bay Mỹ: Sau khi chiếc trực thăng Không quân Việt Nam đáp xuống, lính Mỹ chờ hành khách và phi hành đoàn rời phi cơ xong là cho máy ủi phi cơ xuống biển. Xem đoạn đó anh đã khóc. Từng nuôi mộng phi công nên anh biết quy luật trên tàu sân bay là không có chỗ cho phi cơ ngoài cơ hữu, nhưng trước cảnh ấy anh không thể nói gì khác ngoài câu: Vắt chanh bỏ vỏ. Cho đến giờ, hơn 40 năm sau, nỗi thất vọng ấy ở anh vẫn chưa vơi. Anh nhớ hình như anh có nói việc này với em, nhưng em vẫn giữ nguyên ý kiến. Chúng mình rơi vào bế tắc; im lặng là tốt nhất.

Một lần khác anh và em lại sa vào đề tài cũ. Lần này em nói thẳng gia đình đang chuẩn bị ra đi, và em muốn có anh đi cùng. Tiếc là anh không đồng ý mà còn cực đoan hạ mức quan hệ giữa hai đứa, tối tối dứt khoát không sang nhà em. Anh đã đến với em cùng cái tôi quá lớn và nhiều sai lầm trong suy nghĩ.

Bên ngoài ra vẻ cứng rắn nhưng thật lòng anh buồn lắm. Nhiều đêm khuya anh lấy xe ra khỏi nhà, lòng tự nhủ sẽ không đến nhà em, nhưng đi lòng vòng một lúc lại thấy đang trên đường Phan Thanh Giản. Nhiều lần đã tự nhủ phải cương quyết,  không đến nhưng vẫn thấy đang đi ngang cổng nhà em. Có lần nhớ em quá anh đến đứng chờ ở cây xăng Phan Thanh giản lúc 4 giờ chiều Chủ nhật để được thấy em đi nhà thờ. Rồi một chiều Chủ nhật anh thấy em đi nhà thờ cạnh một thanh niên. Anh có thêm động lực để dứt khoát.

Để không có thời gian rảnh nhớ về em, nhất là về đêm, anh ra đường Lê thị Hồng Gấm mua đàn guitar tự tập chơi classic. Thế là đêm khuya sau khi làm xong việc nhà, việc trường, anh ngồi một mình trên xích đu trước nhà tập chơi đàn.

mai khôi                     Nhà thờ Mai Khôi, Tú xương (ảnh SOS)

Một chiều Chủ nhật anh không thấy em và gia đình đi nhà thờ. Chủ nhật sau anh đứng chờ bên phải đường Phan Thanh Giản, đối diện nhà nguyện Mai Khôi; vẫn không thấy em, đến căn nhà ở hẻm 314 thì thấy có người ở mới. Anh biết việc sẽ đến đã đến! Sau mấy tháng luyện phần cơ bản, anh chuyển sang tập chơi guitar theo bản nhạc. Thật lạ là anh chỉ thích luyện và chơi nửa đầu bản Romance cùng bản Adelita.

Sau này anh mới hiểu. Nửa đầu bản Romance tiết tấu chậm, buồn, hợp với tâm trạng của anh lúc ấy. Rất dễ hiểu. Thế còn bản Adelita? Đó là nhạc hiệu báo chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC. Anh đang mong một tin gì đó.

Và tin anh mong đã đến. Một tin buồn, rất buồn. Mùa hè năm 1979, là bí thư chi đoàn giáo viên, anh cùng đoàn trường dự trại hè do Trung ương Đoàn tổ chức một tháng ở Phú Khánh. Xong trại hè trở về trình diện trường, bà hiệu trưởng nói, “Cậu qua văn phòng xem có lá thư có phải của cậu không. Hai thằng Long kia (lúc đó trường anh có 3 giáo viên tên Long) xem thư thấy nói chết chóc gì đó, tụi nó chối bây bẩy.” Anh lạnh người, linh tính báo lá thư đó là của anh. Thư của chị Phương gửi cho anh. Trong thư chị báo tin em và ba, mẹ đã qua đời, muốn anh cầu nguyện cho gia đình và bảo nếu muốn biết thêm thì đến nhà chị, theo địa chỉ ghi trong thư, chị sẽ cho biết.

Đoàn tàu vượt biên gồm 3 chiếc ra khơi an toàn, không gặp cướp biển. Chiếc chạy nhanh nhất đã cập vào một hòn đảo của Mã Lai. Tiếc là trước đấy đã có quá nhiều tàu vượt biên cập vào đảo. Mà đó là một đảo nhỏ, ít dân, không cơ quan chính quyền hay cảnh sát, bưu điện. Lúc đầu họ rất trọng, xem thuyền nhân (boatman) là anh hùng vì đã xem thường cái chết, nhưng khi nhiều tàu tị nạn cùng đến đấy, trên đảo có quá đông người Việt đói, khát, thiếu thốn thì nhiều việc không hay xảy ra. Chủ yếu là do người tị nạn. Thế là dân địa phương đổi thái độ, từ thân thiện sang thù nghịch. Không tiếp xúc, mua bán, giúp đỡ thuyền nhân, thậm chí xua đuổi, không cho tàu vượt biên khác cập vào đảo. Gia đình ta đi trên một trong hai chiếc tàu đến sau, khi đó dân đảo có đủ thời gian cho tàu của họ ra khơi xua đuổi 2 tàu tị nạn. Sau nhiều ngày đi trên biển thì đất liền là nam châm có sức hút cực mạnh. Người vượt biên chỉ muốn lên bờ. Trong hoàn cảnh ấy đó là một sai lầm lớn mà người trên 2 đi tàu đi sau nào biết. Sẵn cơn giận không kịp đối phó để thêm 1 tàu cập vào đảo, họ bèn trút nỗi giận ấy lên 2 tàu còn lại. Xung đột trên biển xảy ra. Người vượt biên sau nhiều ngày đói, khát đâu còn sức chống trả. Tàu chìm. Nhiều người chết. Em Nam chỉ vớt được xác mẹ. Hôm ấy là ngày 04 tháng 02 năm 1979, nhằm tết Kỷ Mùi. Mấy tháng sau Nam mới liên lạc được với gia đình bên Mỹ, kể lại những việc đau buồn, rồi tin ấy đến với chị Phương. Chị cũng cho biết sau việc của anh với em không thành, lo sợ trước nạn hải tặc khi vượt biên đường biển, gia đình có khuyên em nên kết bạn và nhờ người quen giới thiệu cho em một thanh niên, vốn là chỗ quen biết của gia đình (đó là người thanh niên anh thấy đi nhà thờ cạnh em), nhưng em tỏ vẻ không thiết tha nên người ấy nản, sau đó từ chối. Gia đình khi ra đi có 4 người, đến Mỹ chỉ còn 1.

Từ đó anh thấy nhạc của Nguyễn Đức Quang càng thêm ý nghĩa, anh thích lục bình, loài thực vật thủy sinh có hoa màu tím, bồng bền theo dòng nước.

Anh rễ của anh có bạn là nhà thơ Minh Viên (hình như anh Minh Viên cũng là nhà giáo). Nhà thơ có tặng anh rễ một tập thơ của mình. Anh thích nhất những dòng này:

 

Đời người là điếu thuốc

                                                   Lửa tháng năm cháy dần

                                                   Tro tàn rơi sự nghiệp

                                                   Hồn sợi khói bâng khuân.

 

Giờ đây anh thắc mắc: Anh Minh Viên ơi, thế tình yêu ở đâu?

Trong khi đợi anh Minh Viên, hay một nhà thơ nào đó khác, diễn tả về đời người đầy đủ hơn, anh đành sử dụng cách của anh.

Có những việc người trong cuộc sẵn lòng, và thậm chí rất muốn, chia sẻ với người khác. Cũng có những việc khi nhớ đến lòng ta ray rức, chỉ muốn chôn chặt, muốn dấu kín chúng vào một góc khuất nào đó để được một mình gậm nhấm nỗi buồn. Đó là “Những việc sống để dạ, chết mang theo”. Anh đã làm như thế 37 năm qua, nhưng hôm nay anh nghĩ, anh phải viết ra những lời này. Hạnh, hãy tha thứ cho những lỗi lầm của anh.

Sài Gòn, hè 2016.

Nguyễn Hoàng Long

([email protected])

 

0

Có 4 bình luận về Nói Với Ngân Hạnh

  1. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Một chuyện tình buồn – có thật – mà như hư cấu. Sẻ chia với bạn Long nỗi sầu dấu kín 37 năm.

    0
  2. My Nguyen nói:

    Anh Hoàng Long ơi! Câu chuyện thật hay và thật buồn với những lời tâm sự rất chân thành. MN nghĩ, ở một nơi nào đó, người đã khuất sẽ nghe lời anh nói, sẽ an lòng và sẽ tha thứ cho anh…

    0
  3. Một câu truyện tình không có “happy ending”, thật buồn nhưng thật đẹp, lôi cuốn người đọc đến dòng cuối cùng và vô cùng ngạc nhiên khi thấy tác giả là Nguyễn Hoàng Long. Không ngạc nhiên sao được khi người đọc không tìm thấy sự thông minh, láu lỉnh của cậu bé những năm tiểu học, cũng không thấy dấu vết của tài quan sát tinh tế lẫn sự dí dỏm trong văn từ của thời trung học mà ở đây, chúng ta bắt gặp một Nguyễn Hoàng Long lãng mạn với một mối tình nhẹ nhàng, thơ mộng nhưng cũng không tránh khỏi những trái ngang vì sự biến đổi thời cuộc.

    Phải công nhận, Nguyễn Hoàng Long viết càng ngày càng hay, càng đa dạng. Tôi thật sự hãnh diện vì chỉ qua một số mail gởi cho tôi, tôi đã nhận ra được tài năng viết lách tiềm ẩn nơi người học sinh cũ của tôi.

    Chắc chắn Hoàng Long còn cho chúng ta nhiều ngạc nhiên trong những bài viết sau này của em.

    0
  4. Hoành Châu nói:

    Một cuôc tình rất   thơ  nhưng  lại   là một  cuộc  tình không  may , có đoạn  kết bi thảm,,,tuổi trẻ ta yêu thật khát vọng cháy bỏng nhưng có điều  rất  tự  trọng, , dứt khoát,Bài  viết  của  Hoàng  Long hay  ở  chỗ  thời  gian 37 năm cũng    chưa đủ  để  có  thể   xóa nhòa vết  thương  lòng  sâu đậm  của   quá khứ lừng  hương  ,,,  người đọc    luôn  chờ  mong các  phần bài   tiếp  của  Hoàng Long  nhé  !         Hoành   Châu  (Gia đình  C  )

    0

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Các bài viết mới khác