TOÀ LÂU ĐÀI CỦA MẸ TÔI ( PHẦN V)

Hai vị thợ săn tức mình vì sự thiếu trung thành của chúng tôi nên kéo nhau tới tiệm ăn Pichauris. Lili ăn trưa với chúng tôi, dì Rose, mẹ tôi, em gái và Paul.  Trông hắn có vẻ trang nghiêm trong khi tôi giả bộ hứng khởi, rộn ràng làm mẹ vui lây. Tôi nhìn mẹ tôi thật dịu dàng mặc dù tôi đã có quyết định chắc chắn là tối nay tôi sẽ giã từ bà. Tôi thường tự hỏi, làm sao mà tôi chẳng có một thoáng ân hận hoặc một chút áy náy nào cả khi quyết định một chuyện như vậy. Bây giờ thì tôi mới bắt đầu hiểu. Cho đến thời điểm buồn thảm của tuổi dậy thì, thế giới của đứa trẻ không như thế giới của chúng ta. Trẻ em sở hữu một cảm giác tuyệt diệu của hiện tại.

Mỗi ngày, còn ngồi tại bàn điểm tâm, đầu óc lại nghĩ là mình đang ở trên đồi và gỡ con chim Amsel còn ấm ra khỏi bẫy.

Bụi cây, chim Amsel, chiếc bẫy cũng hiện thực như cái khăn trải bàn, ly cà phê sữa, tấm hình của Tổng thống cộng hoà, ông Fallières, cười một cách nhẹ nhàng đang treo trên tường.

Khi cha tôi thình lình hỏi: “Đầu óc của con ở đâu vậy?” lúc đó tôi mới trở lại phòng ăn nhưng không giống như người bị giật mình vì phải ra khỏi giấc mơ mà với tôi, lúc ấy cả hai thế giới đều hiện hữu cạnh nhau.

Tôi chống chế ngay lập tức: “Con ở đây mà!”

                           Hình 1/  Marcel và cha mẹ  (nguồn hình Le Château de Ma Mère)

Đúng vậy, trong một khoảnh khắc tôi đang đóng vai trò trong cuộc sống của gia đình thì tiếng ruồi bay cũng đủ để đưa tôi tới vực Lancelot, nơi tôi từng bị ba con ruồi xanh đuổi theo. Trí nhớ của đứa trẻ thật là phi thường khiến trong cùng một lúc, tôi có thể nghĩ đến cả ngàn tiểu tiết mà trước đó tôi không tin được là tôi đã để ý đến, chẳng khác gì con bò, trong lúc nhai lại cỏ mới cảm nhận được tất cả mùi vị của rau thơm mà nó đã gặm được trên cánh đồng.

Cũng vì thế mà tôi có thói quen, rời gia đình yêu dấu của tôi theo cách ấy như thể tôi, hoặc không sống cùng với gia đình hoặc sống xa gia đình. Việc làm sắp đến của tôi cũng chẳng có gì mới lạ cả. Một điều thay đổi duy nhất chỉ là sự vắng mặt hình hài của tôi mà thôi.

Những người thân của tôi trong khi ấy sẽ làm gì? Điều này tôi chỉ nghĩ thoáng qua bởi vì tôi không chắc là họ sẽ còn hiện hữu trong khoảng thời gian tôi vắng mặt. Nếu họ vẫn còn đó thì đó chỉ là một cuộc sống ảo, không hề có lo lắng hoặc khổ đau.

Ngoài ra tôi không rời xa vĩnh viễn mà có ý định là một ngày nào đó sẽ trở về để đánh thức họ dậy. Điều này sẽ thực sự đem đến cho họ một niềm vui to lớn khiến cho những sợ hãi vì ác mộng sẽ được quên đi lập tức. Mối lợi của cả câu chuyện này là một niềm hạnh phúc vô biên được thu thập.

Sau bữa ăn, Lili nói phải về nhà vì mẹ hắn chắc là đang đợi hắn để được giúp một tay trong việc đập đậu. Sự thực là hắn muốn xem xét căn hầm để lấy cho tôi một số lương thực. Hắn biết là giờ này mẹ hắn đang ở ngoài đồng. Tôi đi vào phòng của tôi, lấy cớ để thu dọn những thứ mà tôi muốn đem theo ra thành phố và cũng để viết lá thơ tạm biệt:

Cha yêu quý của con!

Mẹ yêu quý của con!

Các người thân yêu quý!

Xin mọi người đừng chấn động vì chẳng có ích lợi gì. Con đã nhận ra được ơn gọi: con sẽ làm người ở ẩn.

Con đã đem theo tất cả những gì con cần đến.

Về chuyện học đại học của con thì bây giờ đã quá trễ bởi vì con từ chối chuyện này. Nếu việc của con không thành, con sẽ trở về nhà.

Niềm hạnh phúc của con là phiêu lưu! Không có gì là nguy hiểm cả. Con có đem theo hai vỉ thuốc Aspirin của hãng Rhône, vì thế xin mọi người đừng chấn động !

Ngoài ra con cũng không một mình. Một người (mọi người không biết đâu) sẽ đem bánh mì cho con và khi có giông bão sẽ ở bên con. Đừng tìm kiếm con vì không thể tìm ra con được đâu.

Hãy để ý đến sức khoẻ của mẹ. Mỗi đêm con đều nghĩ đến mẹ.

Cha nên hãnh diện vì con bởi vì muốn làm người ở ẩn, phải có nhiều can đảm, điều này con có đủ . Đây là bằng chứng!

Khi cha mẹ trở về đây, cha mẹ sẽ không còn nhận ra con nếu con không nói: “Con đây!”

Paul sẽ ganh tị một chút nhưng cũng không hại gì. Hãy hôn hắn bốn lần dùm con.

Con ôm tất cả mọi người với niềm thương mến, nhất là mẹ.

Con của cha mẹ,

Marcel

Người ẩn dật ở trên đồi.

 Tôi lấy sợi dây cũ mà tôi tìm được trên cỏ tại giếng ở Boucan. Sợi dây không dài tới hai thước và đã bị sờn nhiều chỗ vì chà sát vào tường đá. Tuy thế tôi thấy là nó vẫn chịu được sức nặng của tôi khi tôi dùng để leo xuống theo lối cửa sổ. Tôi dấu sợi dây thừng dưới tấm nệm.

Sau cùng, tôi cột cái gói nổi tiếng của tôi: Một ít quần áo, một đôi giầy, con dao nhọn, một cái rìu, muỗng và nĩa, bút chì, vở và sách, dây buộc, đinh, một cái nồi nhỏ, và một số các đồ nghề không còn lành lặn.

Tôi dấu tất cả dưới tấm nệm và khi cả nhà ngủ yên, tôi sẽ dùng mền của tôi để gói chúng thành một gói.

Hai cái túi săn của tôi đã cất vào tủ cho qua mùa đông được tôi chất đầy cả đồ ăn – hột hạnh nhân khô, mận và sô cô la – mà tôi đã lấy ra từ những gói, những kiện hàng được làm để đem ra thành phố.

Việc sửa soạn một cách bí mật này làm tôi hồi hộp.

Không hề xấu hổ, tôi lục soạn khắp các va li, kể cả va li của chú Jules, tôi có cảm tưởng như tôi là Robison Crusoe đang lục lọi các đồ đạc của chiếc tàu mắc cạn và tìm được bao nhiêu là báu vật, chẳng hạn như một cái búa, một cuộn dây buộc, một bao bột mì.

Khi mọi việc đã xong, tôi quyết định dùng hết thì giờ còn lại cho mẹ tôi. Tôi gọt cẩn thận những củ khoai tây, rửa rau sà lát, dọn bàn và hôn tay bà từng chập.

Buổi cơm cuối cùng thịnh soạn và nhiều hơn thường lệ, chừng như để ăn mừng một sự kiện vui nào đó.

Không ai nói một lời tiếc nuối nào, trái lại, ai cũng có vẻ hài lòng được trở về sống trong ổ kiến.

Chú Jules nói về văn phòng của chú, cha tôi thú nhận là cuối năm này ông hy vọng sẽ được lãnh lá cọ hàn lâm, dì Rose lại đề cập bếp ga lần nữa…tôi thấy mọi người đều mong đợi để khởi hành.

Nhưng phần tôi, tôi ở lại đây.

Một viên đá nhỏ đập vào thanh sắt cửa chớp nơi cửa sổ. Đây là dấu hiệu đã hẹn. Tôi mặc quần áo sẵn sàng và mở nhẹ cửa sổ. Một tiếng thì thầm vang nhẹ trong đêm tối:

“Bạn đã xong chưa?”

Để trả lời, tôi thòng gói đồ của tôi xuống bằng sợi dây buộc và gắn lá thơ giã biệt của tôi nơi gối bằng một chiếc kim. Buộc chặt sợi giây thừng nơi khoá cửa sổ. Qua lỗ khoá cửa phòng, tôi gởi đến mẹ tôi cái hôn cuối cùng rồi tôi theo dây để tuột xuống đất.

Lili đợi tôi ở dưới cây olive. Tôi hầu như không trông thấy hắn. Hắn tiến một bước đến tôi và nói khẽ:

“Chúng ta đi đi!”

Từ bãi cỏ, hắn ta nhấc một cái túi khá nặng lên, chỉ với một cử động nhanh, cái túi đã nằm trên vai hắn.

– “Có khoai tây, cà rốt và mấy cái bẫy”, hắn nói.

– “Tôi đem bánh mì, đường, sô cô la và hai trái chuối. Cứ đi tiếp tục, chúng ta sẽ nói chuyện sau.”

Lặng thinh, chúng tôi leo lên triền đồi cho tới Petit Oeil.

Tôi thích thú hít thở không khí trong lành của đêm mà không hề lo lắng gì về việc bắt đầu cuộc sống mới.

                                                         Hình 2/ Taoumé

Chúng tôi đi như đã bao lần trên con đường dẫn đến Taoumé.

Đêm yên tĩnh nhưng lạnh, trời không sao. Tôi lạnh run lên.

Những đám côn trùng của mùa hè, dân cư của những ngày nghỉ lễ, không còn thấy tăm hơi gì nữa trong sự yên tĩnh thầm lặng của mùa thu chưa hiện hữu.

Một con mèo hoang kêu ai oán, một con cú phát ra tiếng kêu như sáo thổi làm vọng lại thật trung thực tiếng vang buồn thảm của Rapon.

Chúng tôi đi nhanh như những người đang chạy trốn. Sức nặng của túi xách đã làm vai xệ xuống, chúng tôi không nói một lời. Những cây thông bọc theo đường mòn đứng im ỉm, trông như những cái bóng màu chì, sương đêm thấm đẫm hương thơm của núi đồi.

Sau khi đi bộ chừng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi tới túp lều của Baptistin, ngồi nghỉ một lát trên tảng đá lớn tại lối vào chuồng cừu.

Lili bắt đầu nói trước.

– “Chút nữa là tôi không đến bạn được.”

– “Bộ cha mẹ bạn canh chừng hay sao?”

– “Không, không phải vậy.”

“- Có chuyện gì?”

Sau một lúc ngập ngừng, hắn nói:

– “Tôi nghĩ là bạn sẽ không làm.”

– “Không làm gì?”

– “Không sống ở trên đồi. Tôi nghĩ là bạn chỉ nói thế thôi, cuối cùng thì…”

Tôi bị chạm tự ái nên đứng dậy.

“Bạn coi tôi như một đứa con gái cứ thay đổi dự tính từng phút một hay sao? Bộ tôi chỉ nói để mà nói à? Bây giờ thì bạn thấy đó, một khi tôi đã quyết định là tôi sẽ thực hiện tới cùng. Nếu bạn không tới thì tôi đi một mình. Nếu bạn sợ thì ở lại đây đi, tôi biết tôi phải đi đâu.”

Với những bước vững chắc, tôi tiếp tục cuộc hành trình. Hắn cũng đứng lên, vác túi xách trên vai và vội bước theo tôi. Hắn vượt tôi, đứng trước mặt tôi, nhìn tôi vài giây rồi nói với giọng thán phục:

“Bạn thật là tuyệt!”.

Tôi làm ra vẻ ta đây và không trả lời. Hắn vẫn nhìn tôi và nói: “như bạn thì chỉ có một không hai!”

Cuối cùng hắn quay đi và tiếp tục bước, được chừng mười bước hắn dừng lại và nhắc một lần nữa:

“Không đâu có được, bạn thật tuyệt vời!” 

Sự ngưỡng mộ vô bờ làm tự ái tôi được ve vuốt nhưng đột nhiên làm tôi hoảng sợ và tôi lại phải cố gắng thêm để giữ vững được sự tuyệt vời này.

Tôi đang đem hết sức lực để thực hiện thì bỗng nhiên nghe thấy tiếng lướt lạo xạo trên sỏi đá. Tôi đứng im và vểnh tai. Tiếng động này lập đi, lập lại nhiều lần.

“Đó là tiếng đêm”, Lili nói, “chẳng ai biết chắc là tiếng động từ đâu đến, có vẻ bí ẩn nhưng bạn đừng sợ, bạn sẽ quen dần đi.”

Hắn đi tiếp và chúng tôi tới được vùng cao của La Garette. Phía trái của chúng tôi là rừng thông dày đặc của Taoumé. Sương mù kéo tới các thân cây và lượn thành những vòng xoắn trên các bụi rậm.

Ba tiếng sủa ngắt quãng làm tôi giật mình.

“Có thợ săn sao?”

“Không”, Lili nói, “con chồn đấy. Khi nó sủa như vậy là nó đem mồi cho chồn cái đấy. Đó là cách để nó báo cho nhau biết.”

Tiếng kêu lại xảy ra ba lần nữa làm tôi nhớ đến cuốn sách nói về thiên nhiên của tôi: voi kêu, hưu rống, chồn sủa.

Bây giờ sau khi đã biết rõ, tôi không còn sợ tiếng kêu trong đêm nữa. Con chồn cũng không còn sủa tiếp. Tôi ghi chú thường xuyên hơn vào cuốn tập của tôi. Tôi hoàn toàn yên tâm và muốn cho Lili cùng chia sẻ điều này thì ở phía trái của tôi, tận sâu trong rừng, giữa các nhánh cây, một cái bóng khá lớn vừa lướt qua thật nhanh.

– “Lili”, tôi nói nhỏ, “tôi thấy một cái bóng vừa lướt qua.”

– “Ở đâu?”

– “Phía dưới đó.”

– “Bạn mơ hay sao”, hắn nói. “Làm sao mà thấy được cái bóng trong đêm tối như vầy…”

– “Tôi nói là tôi thấy một cái bóng lướt qua.”

– “Có thể đó là con chồn.”

– “Không, lớn hơn nhiều. Có phải là anh của bạn đi đặt bẫy chim Drossel không!”

– “Ồ, không đâu, còn sớm quá, trời còn tối đen cả tiếng đồng hồ nữa.”

– “Hay là một người săn lậu?”

– “Tôi không tin được…có lẽ là…”

Hắn đứng lại và tự nhìn xuống khu rừng một cách im lặng.

– “Bạn nghĩ gì vậy?”

Hắn trả lời bằng một câu hỏi:

– “Cái bóng trông ra sao?”

– “Giống như bóng của một người đàn ông.”

– “Cao?”

– “Tôi không biết nữa vì xa quá…phải, cao”

– “Mặc áo khoác? Cái áo khoác dài?”

– “Bạn biết không, tôi đâu có nhìn được rõ như vậy. Tôi chỉ thấy một cái bóng chuyển động và biến mất sau các cây thông và những bụi Wacholder. Tại sao bạn lại hỏi vậy? Bạn nghĩ đến một người mặc áo khoác dài sao?”

– “Có thể lắm”, hắn nói một cách tư lự. “Tôi chưa bao giờ gặp ông ta nhưng cha tôi đã trông thấy ông ấy.”

– “Ai vậy?”

– “Ông Felix cao lớn.”

– “Ông ta đi chăn thú hả?”

“Phải, ông ta đi chăn thú từ thuở xa xưa”

– “Thuở xa xưa, có nghĩa là gì?”

– “Chuyện xảy ra từ lâu lắm rồi.”

– “Tôi chẳng hiểu gì cả.”

Hắn ta tới thật gần và nói thầm vào tai tôi:

– “Ông ta chết cách đây đã năm chục năm. Tốt hơn hết là đừng nói chuyện này nữa, không chừng đem ông ta tới đó.”

Tôi nhìn hắn ta đầy ngạc nhiên trong khi hắn thì thầm tiếp vào tai tôi:“Ông ta là ma đó!”

Sự tiết lộ này làm tôi hoảng hốt, để che dấu nỗi sợ hãi của mình, tôi cười một cách mỉa mai và hỏi bằng giọng diễu cợt: “Bạn tin có ma hả?”

Hắn tỏ vẻ hoảng sợ và nói nhỏ: “Đừng la lớn như vậy! Tôi đã nói với bạn là làm vậy là ông ta tới đó.”

Để chọc tức hắn, tôi trầm giọng xuống:

– “Tôi cam đoan với bạn, cha tôi, một người có học và chú tôi làm việc trong cơ quan hành chánh, cho ma là chuyện tầm phào. Họ chỉ cười về chuyện đó, tôi cũng chỉ buồn cười mà thôi, phải rồi, tôi chỉ cười mà thôi!”

– “Cha tôi không cười được vì ông trông thấy ma, ông thấy bốn lần luôn.”

– “Ba của bạn làm việc chăm chỉ nhưng ông không biết đọc.”

– “Tôi đâu có nói cha tôi biết đọc, tôi chỉ nói là ông trông thấy ma.”

– “Ở đâu?”

– “Một lần lúc ông ngủ đêm nơi lều của Baptistin, ông nghe thấy bước chân, tiếp đó là tiếng thở dài của người đang hấp hối. Ông nhìn qua kẻ hở của cửa và thấy một người chăn thú cao lớn, mặc áo choàng dài, tay cầm cây gậy và đầu đội một cái mũ nhọn. Từ đầu đến chân toàn là màu xám.”

Không muốn cho hắn bực mình, tôi thì thầm:

– “Biết đâu đó là một người chăn thú thật sự?”

– “Ồ, không đâu vì khi cha tôi mở cửa thì chẳng có ai cả, chẳng có người chăn thú mà cũng chẳng có ma. Chẳng có gì hết, liệu đó có phải là ma không.”

Thật là một bằng chứng khó có thể chối cãi được!

– ” Con ma đến để làm gì? Nó muốn gì?”

– ” Đó là một người chăn thú giàu có lắm, ông ta có ít nhất là cả ngàn con cừu. Bọn cướp giết ông, chúng đâm vào giữa vai ông và cướp mất một túi vàng vì vậy mà ông cứ hiện ra để than vãn và tìm túi vàng của ông.”

– “Ông biết là chúng ta có lấy túi vàng của ông đâu”

– “Cha tôi cũng nói với ông như vậy.”

– “Cha bạn nói với ông ta sao?”

– “Ừ, khi ông ta đến lần thứ tư, cha tôi đã nói với ông xuyên qua cửa. Cha tôi nói: ‘hãy nghe đây, Felix, tôi cũng chỉ là người chăn thú như ông. Tôi không biết kho tàng của ông ở đâu, đừng làm hỏng xương cốt của tôi, đừng làm phiền tôi mãi, tôi phải ngủ’ . Con ma không trả lời mà chỉ huýt gió khoảng mười phút. Cha tôi vì thế mà bực mình nên nói thêm: ‘Đối với tôi, người chết rất thiêng liêng, nhưng nếu ông cứ làm như thế mãi thì tôi sẽ bước ra và làm ba dấu thánh giá trước mặt ông và đá sáu cái vào đít ông.”

– “Cha bạn nói với ông ta thế hả?”

– “Ừ, cha tôi nói vậy và ông cũng sẽ làm nhưng người kia đã hiểu. Ông ta bỏ đi và từ đó không bao giờ đến nữa.”

Câu truyện thật là ngu ngơ nên tôi nhất quyết không tin. Tôi bắt chước cách nói của cha tôi.

– “Tôi công nhận đó là một sự ngờ nghệch”, tôi nói, “khi bạn kể cho tôi nghe một câu truyện như thế. Đó chỉ là dị đoan. Ma quỷ chỉ là việc tin dị đoan của người dân. Dấu thánh giá là của thời Trung cổ tăm tối!”

– “Ô hô!” Lili nói. “Làm dấu thánh giá là cách hữu hiệu nhất để đuổi ma quỷ. Không ai chối cãi được và ai cũng biết dấu thánh giá sẽ đánh tan ma quỷ trong khoảng không.”

Tôi cười một cách ngờ vực và hỏi:

– “Bạn cũng biết đánh dấu thánh giá chứ?”

“Dĩ nhiên!” hắn nói.

– “Phải làm dấu hiệu ra sao?”

Hắn làm dấu thánh giá nhiều lần một cách trang trọng. Tôi cười chế nhạo và bắt chước hắn làm theo.

Một tiếng kêu vo vo xuất phát từ trong bóng đêm, rồi tôi nhận được một cú đập nhẹ và khô ngay giữa trán. Tôi khẽ kêu lên một tiếng. Lili cúi xuống để nhặt lên.“Một con bọ hươu”, hắn nói, rồi chà nát con bọ bằng đế giầy và tiếp tục bước. Tôi theo hắn và ngó chừng thường xuyên chung quanh.

Chúng tôi gần đến chân của Taoumé thì tôi đã nhận ra rõ hình dạng của vách đá phía trên lối vào của hang trú ẩn, nơi mà tôi sẽ trải qua suốt cuộc phiêu lưu của tôi.

Thình lình Lili ngừng lại.

“Chúng ta quên mất!”

Giọng nói của hắn  mang một âm hưởng không ổn.

“Chuyện gì vậy?”

Thay vì trả lời, hắn ta lắc đầu, để túi xách trên bụi oải hương và độc thoại:

“Vậy mà tôi quên, làm sao mà tin được! Đáng lẽ là tôi phải nghĩ đến! Nhưng mà bạn cũng quên…..Bây giờ chúng ta phải làm sao?”

Hắn ngồi xuống tảng đá, tiếp tục lắc đầu, hai tay khoanh trước ngực và lặng thinh.

Cử chỉ kịch nghệ của hắn làm tôi bực mình, tôi hỏi một cách nghiêm trọng:

“Bạn làm gì thế? Bạn có điên không? Chúng ta quên cái gì?”

Hắn chỉ tay lên trên khối đá và trả lời bằng một giọng bí ẩn:

– “Con chim cú”

– “Nghĩa là gì?”

– “Con cú khổng lồ.”

– “Cái gì?”

Hắn trở nên thiếu kiên nhẫn và nói thật mạnh mẽ:

“Cái ông Công Tước to lớn kia, ông ấy muốn móc mắt chúng ta! Con cú, tổ của nó ở trần của hang đá. Chắc chắn là nó có con cái. Chúng ta chỉ mới thấy một con nhưng tôi đoan chắc mười hai phần mười là trong hang này phải có hai con!”

                                                                      Hình 3/  Hai con cú

Thật là một cái tin khủng khiếp, dù có tuyệt vời đi nữa thì cũng có những giây phút phải chịu đựng số phận.

Hai con cú lớn! Tôi tưởng chừng như chúng đang quần trên đầu tôi, móng vuốt dương ra, mỏ mầu vàng thè cái lưỡi đen xì, mắt xanh nước biển và vuốt cong vòng. Trong các cơn ác mộng của tôi, nó còn nguy hiểm hơn lời diễn tả trên của tôi cả ngàn lần. Tôi nhắm mắt lại và thở thật sâu.

Không, không, không được! Thà là tôi ngồi trong lớp của thầy Besson trước tấm bảng ghi đầy dấu hiệu hình học, hoặc là trở về thành phố để làm xong nhiệm vụ công dân vậy mà tốt hơn.

Lili lập lại: “Phải có hai con!”

Bây giờ tôi còn phải chứng tỏ tôi càng tuyệt vời hơn trong khi tôi đã quyết định rút lui.

Tôi trả lời hắn một cách bình thản:

– “Tụi mình cũng hai người! Không lẽ bạn lại sợ sao?”

– “Ừ”, hắn nói, ” tôi sợ! Bạn chưa biết rõ mọi việc đâu. Chúng ta mới thấy nó vào ban ngày nên nó không bị chấn động….nhưng ban đêm, nó thức dậy và nó sẽ móc mắt bạn khi bạn nằm ngủ…một con cú lớn còn nguy hiểm hơn cả con đại bàng.”

Tôi nghĩ, nếu tôi cứ cho hắn thấy sự can đảm quá lố của tôi, hắn sẽ không đi theo tôi nữa bởi vậy tôi trả lời một cách cương quyết:

– “Vì vậy hãy đợi đến rạng đông rồi tấn công nó! Với một con dao nhọn và một cây gậy tôi sẽ cho nó thấy cái hang này sẽ đổi chủ mới. Bây giờ không nói nữa để mà sửa soạn mọi việc!”

Nói vậy nhưng tôi không động đậy, hắn nhìn tôi và trong nháy mắt đứng ngay dậy.

– “Bạn nói đúng”, hắn nói một cách phấn khởi. “Nói cho cùng thì chúng chỉ là chim. Bây giờ chúng ta kiếm hai cành Wacholder. Tôi sẽ chuốt cho nó sắc và nhọn để  xiên chúng như xiên gà!”

Hắn đi tiếp vài bước, mở con dao bỏ túi, cúi xuống , bước vào bụi cây để làm việc.

Dưới gốc của cây thông, ngồi xổm trên sỏi, tôi suy nghĩ. Trong khi cắt cây gậy, hắn nói:

“Khi chúng không chịu ra khỏi tổ, tôi sẽ chọc cây gậy vào và rồi bạn sẽ nghe thấy tiếng kêu của chúng!”

Tôi hiểu là hắn tấn công chim cú không phải vì thích thú mà vì hắn đã nhất quyết. Hắn thật tuyệt vời và tôi xấu hổ vì sự hèn nhát của tôi.

Tôi cầu cứu vị anh hùng của tôi, Robinson Crusoe…nếu ông làm chỗ ở trong một cái hang và thấy hai con chim thì ông sẽ hành động ra sao? Cũng không khó đoán, ông sẽ bẻ cổ chúng ngay tại chỗ, vặt lông và nướng chúng trên lửa để có một món ăn ngon lành. Nếu tôi sợ hai con vật này, tôi sẽ không có quyền để mà được trải qua những kinh nghiệm như trong truyện phiêu lưu mà các anh hùng trong hình từ trước đến giờ vẫn nhìn thẳng vào mắt tôi, nay sẽ quay mặt đi để khỏi phải nhìn thấy trái tim yếu đuối của một phụ nữ.

Ngoài ra không phải là chuyện chim đại bàng, to lớn và hoang dã, chỉ nghe tên là người ta đã sợ mà đây chỉ là hai con cú lớn, đối với tôi chúng ít nguy hiểm hơn nhiều.

Tôi can đảm cầm cái dao nhọn trong tay và mài trên một hòn đá cho sắc.

Còn chuyện con ma. Tôi nhắc lại cho tôi lời đoan chắc của cha tôi: Không có ma! Tuy thế tôi đã kín đáo làm dấu thánh giá ít lần để cho ma quỷ bị tan nát trên không.

Lili bò ra khỏi bụi cây, kéo theo sau hai cành thẳng tắp, dài hơn cả hắn. Hắn đưa cho tôi một cành. Tôi lấy sợi dây trong túi và buộc cán con dao dễ sợ đó vào đầu nhỏ của cây gậy. Lili ngồi bên tôi và vót nhọn cẩn thận cây gậy của hắn như một cây bút chì.

Chung quanh chúng tôi ánh rạng đông đã xuyên qua lớp sương mù. Trong ánh sáng nhàn nhạt đó tôi nhìn thấy dường như những đám mây bằng bông còn đọng lại trên cây cũng như trên các bụi rậm.

Trời lạnh.

Thần kinh của tôi đã giúp tôi thức suốt đêm bỗng nhiên yếu đi. Tôi cảm thấy như tôi phải cố gắng lắm mới giữ được đầu của mình ngay ngắn. Trong khoảnh khắc khi tôi dựa vào thân của cây thông, mắt tôi bỗng sụp xuống.

Tôi thiếp đi thì bỗng nghe thấy tiếng cành khô bị gẫy. Tôi gọi Lili thật nhỏ: “Bạn có nghe thấy không?”

– “Đó là con thỏ rừng”, hắn nói.

– “Thỏ làm sao dám gan như vậy.”

– “Đúng đó, hay là con chồn…”

Hắn ta tiếp tục vót nhọn cây gậy của hắn và nói tiếp:“Bạn thật tuyệt diệu!”

Tôi vừa muốn nói là câu trả lời của hắn quá ngô nghê thì tôi bỗng thấy một hình dạng giữa các thân cây trong ánh dương hồng mờ mờ. Người chăn thú với cái mũ rộng vành và một cái áo choàng dài bước chầm chậm, trước ông ta là hình dạng của những con cừu trong sương mù, lớp sương này ở tận chân trời nên khó mà bay được lên cao, cái cán dao cắm vào giữa vai của ông ta…

                                          Hình 4/ Hồn ma ông Felix, người chăn cừu

Tay run lên, tôi làm dấu thánh giá về phía ông ta. Thay vì tan trên không trung, ông ta tiến về phía tôi và cũng làm dấu thánh giá, nhìn lên trời một cách khinh miệt, vừa cười chế diễu vừa bước đến chúng tôi. Tôi muốn kêu lên nhưng cổ họng như bị thắt chặt lại vì sợ và tôi ngất xỉu. Tôi thấy có hai bàn tay nắm lấy vai tôi, muốn la lên thì nghe thấy giọng của Lili.

 – “Ê, thức dậy! Bạn đừng ngủ lúc này!” Hắn nhấc tôi đứng lên vì tôi bị ngã.

Tôi thì thầm:  “Bạn có trông thấy không?”

– “Dĩ nhiên là thấy bạn bị ngã chứ. May mà ở đây toàn là các bụi thymian, nếu không mặt của bạn sẽ bị trầy hết! Bạn mệt mỏi đến thế sao?”

– “Ồ đâu có”, tôi nói, “qua rồi. Bạn có nhìn thấy…..con ma không?”

– “Tôi không thấy gì cả mà chỉ nghe tiếng gẫy ở phía trên kia…có lẽ ông Mond Parpaillouns lại lang thang quanh đây. Chúng ta phải coi chừng đừng để ông bắt gặp…nhìn này, đây là ngọn giáo của tôi!”

Hắn ta đã gọt hết cả vỏ nên gỗ trở nên láng như đá cẩm thạch. Hắn cho tôi sờ vào đầu nhọn và nó cũng sắc như dao của tôi.

Vài ngôi sao mờ hiện rõ trên viền trời vùng Sainte-Baume.

Hắn đứng dậy.

“Mọi thứ đều xong”, hắn nói. “nhưng trời vẫn chưa đủ sáng để chiến đấu với mấy con cú. Chúng ta hãy đi đến nguồn Bréguette để lấy nước đầy chai.”

Tôi theo hắn xuyên qua những đám oải hương còn đẫm sương.

                                    Hình 5/ Đôi bạn Marcel & Lili

Nguồn nước Bréguette nằm ở phía trái của Taoumé, dưới một tảng đá nhỏ, một cái lỗ hình vuông, không lớn hơn một cái bình, chỉ sâu hơn 60cm. Ngày xưa, một người chăn dê nào đó đã kiên nhẫn đào được từ một chỗ đá nứt đầy rêu bám. Nguồn này lúc nào cũng đầy một nửa nước mát lạnh.

Lili nhúng cái chai vào, nước chảy vào chai kêu lên ục ục như tiếng chim cu.

 – “Bạn có thể đến đây để uống nước”, hắn nói.

– “Nguồn nước này không bao giờ cạn và mỗi ngày cho ít nhất là mười lít.”

Bây giờ tôi chợt nghĩ ra điều làm tôi phải đau đầu từ ít phút vừa qua. Ngại ngùng, tôi hỏi:

– “Mười lít? Bạn chắc chứ?”

– “Ừ, đôi khi có tới mười lăm lít.”

Giả vờ tức giận, tôi la lên:

– “Bạn nói đùa hả?”

– “Đâu có đùa“, hắn nói. “Khi tôi nói mười lăm lít thì bạn cứ tin tôi đi.”

 

Tôi la hắn:

– “Vậy tôi làm gì với mười lăm lít nước?”

– “Dẫu gì đi nữa thì bạn cũng không thể uống hết được cả mười lăm lít nước.”

– “Không, còn tắm rửa thì sao?”

– “Rửa thì chỉ cần một vốc nước.”

Tôi chế nhạo:

– “Với bạn thì được, còn tôi thì phải sát sà phòng từ đầu đến chân.”

– “Tại sao vậy? Bạn bị bịnh hả?”

– “Không, bạn phải hiểu tôi là dân thành phố, có nghĩa là người tôi đầy vi trùng và phải coi chừng vi trùng.”

– “Đó là gì?”

– “Nó cũng giống như các con bọ nhưng nhỏ lắm mà chúng ta không thấy được. Nếu mỗi ngày tôi không sát sà phòng thì chúng sẽ ăn thịt tôi từ từ và một ngày nào đó, bạn sẽ tìm thấy tôi nằm chết trong hang, bạn chỉ cần một cái sẻng để chôn tôi mà thôi.”

Cái viễn tượng bi thảm này làm Lili yêu quí của tôi kinh sợ: “Thật là ghê”, hắn nói.

Giả dối và độc địa, tôi trách hắn: “Ngoài ra đó là lỗi của bạn, nếu bạn không hứa chắc là ở Bréguette có đủ nước để dùng thì….”

Hắn ta hoàn toàn tuyệt vọng.

– “Làm sao tôi biết được! Tôi làm gì có vi trùng. Tôi còn không biết chúng tên là gì! Tôi cũng như mọi người ở đây, chỉ tắm vào ngày chủ nhật mà thôi. Baptistin nói, chuyện tắm là trái với thiên nhiên và làm cho người ta bị bệnh. Ông già Mond Parpailluons có bao giờ trong đời mà tắm đâu, ông ta đã trên bẩy chục mà bạn thấy là ông ấy khoẻ ra sao”

– “Thôi, thôi, đó chỉ là nói cho qua…tôi bị vào tròng, thật sự bị vào tròng…thật là một thảm hoạ, nhưng mà bạn đâu có cố ý…đó là định mệnh…số phần đã được định sẵn rồi…!”

Dựa vào cây gậy, tôi nói một cách trang trọng: “Từ biệt! Tôi bị gục ngã! Tôi phải trở về nhà!”

Tôi leo trở lại lên vùng cao. Ánh hồng dương đã nhuộm đỏ cả vách đá thật xa của vùng Saint-Esprit.

Vì Lili theo nên sau khi đi chừng hai chục thước, tôi dừng lại vì tôi sợ trong ánh sáng lờ mờ của buổi hừng đông hắn ta không nhìn thấy tôi nữa. Tôi chống cây lao của tôi trên sỏi, để hai bàn tay lên mà tựa, trán gục vào tay trong thế đứng của một chiến sĩ bại trận.

Chiến thuật này thành công một cách nhanh chóng; Lili chạy tới và ôm tôi trong tay.

– “Đừng khóc“, hắn nói “đừng khóc…”

– “Tôi khóc?”, tôi nói một cách chế diễu. “Không, tôi không muốn khóc, tôi chỉ muốn đập nát cả quanh đây thôi! Đừng nói đến chuyện đó nữa…”

– “Đưa cho tôi gói đồ của bạn!” hắn nói. “Tất cả là lỗi của tôi nên tôi phải  xách hết.”

– “Còn túi xách của bạn?”

“Tôi để lại dưới kia, tôi sẽ đến lấy trong ngày. Bây giờ chúng ta phải đi nhanh về nhà trước khi lá thơ của bạn bị tìm thấy. Chắc chắn bây giờ mọi người đang còn ngủ…”

Hắn đi trước, tôi bước theo sau mà chẳng nói gì cả, thỉnh thoảng tôi lại thở dài một cách tuyệt vọng.

Từ xa, căn nhà của chúng tôi trông như chết và đen xì. Khi tiến lại gần, tim tôi đập mạnh: có ánh đèn chiếu qua khe cửa chớp trước phòng của cha tôi.

– “Tôi cá là cha tôi đã thay quần áo”, tôi nói.

– “Như vậy là ông vẫn chưa thấy gì cả. Leo lên nhanh đi.”

Hắn cúi người xuống, tôi trèo lên lưng hắn và với tới sợi thừng, sợi thừng này tiết lộ sự ra đi của tôi nhưng bây giờ lại giúp tôi an toàn trở về. Tiếp đó hắn trao cho tôi gói đồ.

Phía trên cao từ trong sương mù bỗng dưng con chim sơn ca cất tiếng hót. Mặt trời bắt đầu mọc trên sự thất bại của tôi.

“Tôi đi lên đó lần nữa để lấy túi xách của tôi”, Lili nói, “Rồi tôi sẽ xuống lại.”

Lá thơ từ biệt vẫn nằm chỗ cũ, tôi kéo cái kim ra và xé thành ngàn mảnh, cầm trong hai ngón tay và ném qua cửa sổ rồi đóng thật nhẹ lại.

Trong im lặng tôi nghe thấy tiếng người nói chuyện từ phòng của cha tôi.

Ông nói nhanh và có vẻ thích thú lắm, tôi tưởng chừng như nghe thấy tiếng ông cười.

Phải rồi, ông cười vì kỳ nghỉ hè đã chấm dứt…Từ khi thức dậy ông đã cười vì ý nghĩ, ông sẽ được nhìn lại những những cây bút chì buồn rầu, mực và phấn trong ngăn kéo bàn giấy của ông…

Tôi dấu gói đồ của tôi dưới gầm giường, nếu ai tìm thấy thì tôi nói là tôi làm vậy vì muốn cho mấy gói của mẹ tôi nhẹ nhàng hơn.

Sau đó tôi bò vào giường, vừa xấu hổ vừa mệt mỏi. Tôi sợ hãi và tôi đúng là một thằng hèn với trái tim của phụ nữ. Tôi lừa dối cha mẹ tôi, lừa dối bạn tôi và lừa dối chính tôi nữa.

Tôi không sao tìm được lời xin lỗi, tôi muốn khóc…vì thế tôi kéo chiếc mền dầy đến tận cằm và trốn vào giấc ngủ….

(Còn tiếp)

Lê-Thân Hồng-Khanh chuyển sang tiếng Việt từ:

Dịch từ bản tiếng Đức: Eine Kindheit in der Provence của Pamela Wendekind

Nguyên tác: Le Château de ma Mère của Marcel Pagnol

Nguồn hình: Net & phim Le Château de Ma Mère

 

Bài này đã được đăng trong Sáng tác&Nghiên cứu, Tin nhà và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Có 3 phản hồi tại TOÀ LÂU ĐÀI CỦA MẸ TÔI ( PHẦN V)

  1. Nguyễn Thị Hạnh nói:

    Giấc mộng phiêu lưu, làm người hùng của Marcel đã tan tành sau một đêm thực tế kinh khiếp cùng với Lili. May quá, chúng trở lại nhà kịp lúc, xé bức thư và mọi chuyện sẽ diễn ra bình thường sau kỳ nghỉ hè kỳ thú.

  2. Hoành Châu nói:

    Tuyệt  ,,,phần diễn tả nội tâm hay quá  ,,trong đầu một đứa trẻ non nớt lại dày dặn kinh nghiệm , nỗi sợ hãi , sự can đảm , phấn chấn  cùng bao ước vọng ,,,đã tan tành mây khói ,,,nhưng ta vẫn biết con đường phiêu lưu chưa dễ gì bị dập tắt ,,vẫn còn sự khát khao ,,chờ đọc tiếp  Hihi
    Hoành Châu ~ Châu Lãng Uyển  (Gia đình C  )

  3. Hai em có thấy cậu bé Marcel “láu cá” không. Đã rút lại được  ý định “ở ẩn” trong vùng đồi núi mênh mông để trở về nhà, sau khi trải qua một đêm quá gây cấn với nhiều nguy hiểm đang chờ đợi mà không bị “mất mặt” với bạn thân Lili, ngoài ra còn làm cho Lili cảm thấy áy náy vì nghĩ, chính Lili là thủ phạm phá hỏng chương trình của người bạn “tuyệt vời” của mình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài cùng chủ đề gần đây
Các bài viết mới khác