Thơ  Nguyễn Văn Siêu

 Nguyễn Văn Siêu 阮文超 (1798-1872) tên khác là Định 定, tự Tốn Ban 遜班, hiệu Phương Đình 方亭 và Thọ Xương cư sĩ 壽昌居士, thuỵ Chí Đạo 志道, người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Đỗ phó bảng năm 1838 đời vua Minh Mệnh. Ông là người cùng thời với Cao Bá Quát, hai người nổi tiếng có tài văn thơ mà dân gian hay truyền tụng là “thần Siêu thánh Quát”. Nguyễn Văn Siêu làm quan đến chức án sát, có sang sứ bên Trung Hoa.

Nguyễn Văn Siêu sáng tác rất mạnh, các tác phẩm của ông khá đồ sộ. Về thơ ca, cơ bản ông có các tập thơ:
– Anh ngôn thi tập 英言詩集 (2 quyển, 141+162 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Thăng Long
– Lưu lãm tập 流覽集 (2 quyển, 177+128 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông ở Huế
– Mạn hứng thi tập 漫興詩集 (187 bài) gồm các bài thơ sáng tác khi ông rời Huế về Thăng Long
– Vạn lý tập …                           ( nguồn : Thiviennet )

    Vua Tự Đức đã từng khen :  Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, để chỉ văn tài siêu việt của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, nhưng có biết đâu rằng Nguyễn Văn Siêu cũng giỏi thơ không thua Tùng Tuy chút nào cả !

Mời đọc các bài thơ sau của Nguyễn Văn Siêu sẽ rõ !…

  1. Bản chữ Hán cổ của bài Xuân Nhật Hiểu Khởi :

春日曉起      XUÂN NHẬT HIỂU KHỞI

t
宿火明書牖,    Túc hỏa minh thư dũ,
曉鍾聞佛臺。    Hiểu chung văn Phật đài.
主人催被起,    Chủ nhân thôi bị khởi,
小子報花開。    Tiểu tử báo hoa khai.
夜氣融孤竹,    Dạ khí dung cô trúc,
晴光弄小梅。    Tình quang lộng tiểu mai.
流鶯囀不已,    Lưu oanh chuyển bất dĩ,
應有故人來。    Ưng hữu cố nhân lai !
阮文超                       Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :

– Túc Hỏa : Đèn hoặc nến ban đêm để thắp sáng.
– Thư Dũ : Cửa sổ bên bàn học.
– Hiểu Chung : Chuông chùa công phu buổi sáng.
– Thôi Bị Khởi : Đẩy cái mền ra ngồi dậy, ý chỉ thức giấc.
– Tiểu Tử : Ở đây không có nghĩa là con nhỏ mà là Tiểu Đồng, Thư Đồng để đối với chữ chủ nhân ở trên.
– Dung : là hòa, tan, lẫn vào.
– Tình Quang : là ánh nắng.
– Chuyển : là Uyển Chuyển, là tiếng hót véo von, líu lo.
– Ưng Hữu : Chắc có, có thể có.

* Nghĩa bài thơ :
SÁNG XUÂN THỨC GIẤC
Đèn đêm còn chiếu sáng song cửa sổ, đã nghe tiếng chuông công phu buổi sáng ở Phật đài. Chủ nhân vừa tung chăn thức giấc thì tiểu đồng đã báo cho biết là hoa sáng đã nở rồi. (Mở cửa ra thì thấy) Hơi đêm còn như đang tan vào bụi trúc cô đơn trước ngõ và ánh nắng ban mai le lói như đang ghẹo cành mai nhỏ trước sân, tiếng chim oanh bay lượn không ngừng hót líu lo, như báo trước chắc là có bạn cũ đến chơi.

* Diễn Nôm :
 Đèn đêm còn soi song cửa,
Đã nghe chuông sớm ngân nga.
Chủ nhân tung chăn thức giấc,
Tiểu đồng báo sáng nở hoa.
Hơi đêm tan vào tre lạnh,
Nắng sớm ghẹo cội mai già.
Tiếng oanh líu lo không ngớt,
Chắc là bạn đến thăm ta !

Lục bát :
   Đèn còn hắt sáng cửa song,
Phật đài đã vẳng chuông ngân đầu ngày.
Chủ nhân thức giấc vươn vai,
Thư đồng đã báo nở vài cành hoa.
Hơi đêm nhành trúc la đà,
Vài tia nắng sớm ghẹo hoa mai vàng.
Chim oanh ríu rít rộn ràng,
Chắc là có bạn thuận đàng ghé chơi !

Đỗ Chiêu Đức

Bản chữ Hán cổ bài Hiểu Tọa :

HIỂU TỌAt  曉坐 
曉坐對茶甌,   Hiểu tọa đối trá âu,
空心懶應接。   Không tâm lãn ứng tiếp.
雞鳥聲復聲,   Kê điểu thanh phục thanh,
晴雲布亂蝶。   Tình vân bố loan điệp.
阮文超             Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
– Trà Âu : Bình sành, chén sành dùng để uống trà.
– Lãn : là Lười biếng.
– Tình Vân : là mây tạnh, là Trời quang mây tạnh.
– Bố : là phân tán, rải khắp.

* Nghĩa bài thơ :

Ngồi Chơi Buổi Sáng
Buổi sáng ta ngồi đối diện với bộ đồ trà mà trong lòng cảm thấy trống trải, lười biếng không muốn ứng tiếp với ai cả. Hết tiếng gà gáy rồi tiếng chim kêu nối tiếp nhau, trời quang mây tạnh nên đàn bướm đổ xô ra bay loạn khắp nơi ( thật là bực mình hết sức !).

Qủa là, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ! Ngồi uống trà buổi sáng, trời quang mây tạnh, có gà gáy, có chim hót, có bươm bướm lượn bay, cảnh đẹp là thế, nhưng vì tâm lý của tác giả không vui, nên mới đâm ra uể hoải lười biếng chẳng muốn giao tiếp với ai và bực mình cả với tiếng gà gáy chim kêu bướm lượn !

* Diễn Nôm :
Sáng ngồi trước ấm trà,
Lòng buồn chẳng thiết tha.
Gà gáy rồi chim hót,
Mây tạnh bướm nhởn nha

Lục bát :
  Sáng buồn ngồi trước bình trà
Cỏi lòng trống trải chẳng tha thiết gì
Chim kêu gà gáy liền khi,
Trời quang lũ bướm loạn phi khắp cùng ! 

Đỗ Chiêu Đức

Bản chữ Hán cổ của bài thơ Tĩnh Tọa :

TĨNH TỌAt      靜坐 
書永午雞辰一叫,      Thư vĩnh ngọ kê thần nhất khiếu
簾垂到地人過少。      Liêm thùy đáo địa nhân qua thiểu.
無風半樹微微搖,      Vô phong bán thụ vi vi diêu,
葉裡打蟲穿出鳥。      Diệp lý đả trùng xuyên xuất điểu.

阮文超                                  Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
– Tĩnh Tọa : còn được đọc là Tịnh Tọa, là Ngồi yên một chỗ.
– Thư : là Động từ, có nghĩa là Đọc sách.
– Ngọ Thần : là giờ Ngọ; Ngọ Kê Thần : là Con gà gáy vào giờ Ngọ.
– Đả Trùng : Không phải “đánh sâu”, mà là bắt sâu.
– Xuyên Xuất : là chui ra.

* Nghĩa Bài Thơ :
Lặng Ngồi
Đọc sách cho đến lúc gà gáy trưa gáy lên, Ta lặng ngồi trong phòng có rèm phủ đến mặt đất và rất ít người qua lại mà ngắm cảnh bên ngoài. Trời không có gió lớn nên nửa thân cây chỉ hơi giao động, ta thấy một con chim bắt sâu chui ra khỏi đám lá xanh !

* Diễn Nôm :
Lặng Ngồi
  Đọc sách đến trưa gà gáy nắng,
Buông rèm tới đất người qua vắng.
Gió yên cây lặng lá lay lay,
Trong lá bắt sâu chim một móng !

Lục bát :
 Đọc sách đến gà gáy trưa,
Rèm buông sát đất đường thưa vắng người,
Gió yên cây lặng êm trời,
Chui ra trong lá chim loài bắt sâu !

Đỗ Chiêu Đức

  1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Đình Tiền Bộ Nguyệt :

t 庭前步月    ĐÌNH TIỀN BỘ NGUYỆT

掃地焚香坐,  Tảo địa phần hương tọa,
空心待月生。  Không tâm đãi nguyệt sanh.
清影移梅至,  Thanh ảnh di mai chí
西廂遶竹行。  Tây sương nhiễu trúc hành.

阮文超                      Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
– Đình : là Sân nhỏ ở trong khuôn viên nhà; ĐÌNH TIỀN là Trước sân.
– Phần Hương : là Đốt nhang, thắp hương.
– Đãi Nguyệt Sanh : là Đợi trăng mọc.
– Tây Sương : là Mái nhà mé tây.
– Nhiễu : là Vòng quanh

* Nghĩa Bài Thơ :
Đi bộ ngắm trăng trong sân nhà
Quét sạch đất, thắp nhang rồi ngồi đó, giữ cho lòng thanh thản để đợi trăng lên. Cái bóng của cây mai thanh thanh đang di chuyển đến gần ta, thì ra trăng đã lên rồi, ta theo hướng mái tây mà đi vòng theo những hàng tre bên đó.

Từ TÂY SƯƠNG ( Mái Tây ) làm cho ta nhớ đến bài thơ trong Tây Sương Ký của Nguyên Chẩn đời Đường :

待月西廂下,  Đãi nguyệt Tây sương hạ,
迎風戶半開。  Nghinh phong hộ bán khai.
拂墻花影動,  Phất tường hoa ảnh động,
疑是玉人來。  Nghi thị ngọc nhân lai.
Có nghĩa :
Đợi trăng dưới mái tây,
Cửa hé gió hây hây.
Bên tường hoa lay động,
Phải người ngọc tới đây ?!
Đỗ Chiêu Đức

* Diễn Nôm :
   Quét đất thắp hương ngồi,
Thảnh thơi chờ trăng mọc.
Bóng mai đã di dời,
Mái tây vòng tre trúc !

Lụcbát :
 Thắp hương quét đất ta ngồi,
Thảnh thơi đợi giữa lưng trời trăng lên.
Bóng mai đã xế kề bên,
Vòng theo bờ trúc bên thềm mái tây !

Đỗ Chiêu Đức

  1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Thu Dạ Thính Vũ :

秋夜聽雨     THU DẠ THÍNH VŨ

海國三秋半,  Hải quốc tam thu bán,
山城一雨初。  Sơn thành nhất vũ sơ.
寂寥群動息,  Tịch liêu quần động tức,
涓滴夜聲疏。  Quyên trích dạ thanh sơ.
隨葉空庭際,  Tùy diệp không đình tế,
敲金萬瓦餘。  Xao kim vạn ngõa dư.
還家此夕夢,  Hoàn gia thử tịch mộng,
不畏路沮洳。  Bất uý lộ tự như.
 Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
– Hải Quốc : Tỉnh thành ở gần biển hay Các nước ở sát bờ biển như VN ta vậy.
– Tịch Liêu : Tịch mịch cô liêu là Buồn bã vắng vẻ.
– Quyên Trích : Tiếng mưa dột lộp độp, tí tách.
– Xao Kim : là Gỏ vào kim loại.
– Ngõa : là Ngói lợp nhà.
– Tự Như : là Bùn sình lầy lội.

* Nghĩa Bài Thơ :
Đêm Thu Nghe Mưa
Ở gần vùng biển đã hơn ba mùa thu rồi, cái thành ở trên núi cao nầy bắt đầu vào mùa mưa. Mọi hoạt động đều ngưng trệ trong vắng lặng buồn bã, tiếng mưa cứ thánh thót rơi đều suốt đêm, tiếng lá cây cứ xào xạt trong sân và hạt mưa đập lên muôn vạn tấm ngói trên mái nhà như tiếng kim loại chạm vào nhau. Đêm nay nếu như mơ được về nhà thì không phải sợ đường xa trơn trợt lầy lội nữa !

* Diễn Nôm :
Hơn ba thu gần biển,
Thành cao mưa vào mùa.
Buồn thiu ngày vắng lặng,
Rả rít đêm gió lùa.
Lá xạc xào sân vắng,
Ngói tí tách nước khua.
Mộng về đêm nay sẽ,
Chẳng sợ đường lầy mưa !

Lục Bát :
Gần biển hơn ba năm nay,
Thành cao trên núi mưa ray rức buồn.
Im lìm vắng lặng mưa tuôn,
Tí ta tí tách mưa luồn suốt đêm.
Xạc xào sân vắng bên thềm,
Ngói khua chí chát như kim loại hòa.
Đêm nay nếu mộng về nhà,
Sẽ không phải sợ mưa sa bùn lầy !

Đỗ Chiêu Đức

  1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ Dã Khê Độ :

野溪渡             DÃ KHÊ ĐỘ
細雨埋前路,    Tế vũ mai tiền lộ,
飛花斷野橋。    Phi hoa đoạn dã kiều.
小童簑笠宿,    Tiểu đồng toa lập túc,
孤艇隔鸂招。    Cô đĩnh cách khê chiêu.
阮文超                Nguyễn Văn Siêu

* Chú Thích :
– DÃ KHÊ Độ : là Bến đò Dã Khê.

– Tế Vũ : Mưa bụi, mưa lất phất.
– Mai : là Chôn, ở đây có nghĩa là Che lắp.
– Đoạn : là Đứt, là Gãy, ở đây có nghĩa là Làm cho bít lối.
– Toa Lạp 簑笠 : Còn đọc là Thoa Lạp, là Áo tơi nón lá.
– Cô Đĩnh : Chiếc xuồng con nho nhỏ đơn độc.
– Chiêu : là (đưa tay) Ngoắt, gọi.

* Nghĩa Bài Thơ :
Bến đò DÃ KHÊ
Mưa lất phất rơi làm mờ mịt cả con đường trước mắt, hoa rụng bay khắp lối che khuất cả chiếc cầu ngoài đồng nội. Một chú bé con chèo đò nho nhỏ với nón lá áo tơi đang ngủ trên chiếc xuồng con, mặc cho khách ở bên kia bờ sông đang vẩy tay réo gọi !

* Diễn Nôm :
Trước mặt mưa che lối,
Cầu khuất trong hoa rơi.
Tiểu đồng say giấc bướm,
Mặc khách gọi ới ơi !
Lục bát :
Mưa rơi che khuất đường dài,
Hoa bay phủ kín cầu ngoài đồng không.
Áo tơi nón lá giấc nồng,
Đưa đò say ngủ… mặc lòng khách kêu !

Đỗ Chiêu Đức

Tháng 5 năm 2018.

 

 

Bài này đã được đăng trong Sáng tác&Nghiên cứu và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài cùng chủ đề gần đây
Các bài viết mới khác